U.G.: Bạn đang vận hành dựa trên rất nhiều giả định. Giả định đầu tiên là bạn cho rằng tất cả con người đều giống nhau. Tôi khẳng định rằng không có hai cá thể nào giống hệt nhau. Nỗ lực của bạn nhằm đi tìm “mẫu số chung lớn nhất” là một việc tự chuốc lấy thất bại.
Hỏi: Là nhà khoa học, chúng tôi muốn tìm hiểu liệu có sự độc nhất nào ẩn sau những điểm tương đồng bề ngoài giữa con người hay không. Chúng tôi quan tâm đến những dị biệt và ngoại lệ nơi con người. Các du-già (yogin) và những bậc lãnh đạo tôn giáo dường như mang đến những trường hợp thật sự đặc biệt và độc đáo. Chúng tôi muốn nghiên cứu họ – và cả ông.
U.G.: Các bạn không có cách nào khác để tìm hiểu ngoài việc tìm đến mấy ông du-già và những kẻ đang rao bán “hàng hóa” của họ ngoài chợ sao? Những hạng xoàng thì có thể chịu để các bạn kiểm tra, nhưng “hàng xịn thực sự”, nếu có, sẽ không bao giờ chấp nhận bị thử nghiệm. Đây sẽ là một vấn đề rất lớn cho các bạn. Các bạn sẽ không bao giờ khiến một J. Krishnamurti, một Sai Baba hay một Muktananda hợp tác. Những người sẵn lòng đóng vai “chuột bạch” thì rẻ bèo, có cả tá.
Hỏi: Nhưng nếu vậy thì chúng tôi phải làm thế nào để tìm ra nền tảng của sự chuyển hóa nội tâm?
U.G.: Tôi không biết. Tuy nhiên, tôi sẽ khuyên các bạn đừng vội tin vào những tuyên bố mà những người đó đưa ra. Mọi thứ đều cần được kiểm chứng.
Hỏi: Đó chính là mục tiêu của chúng tôi: chúng tôi đang cố gắng tìm ra một cách để kiểm tra tính xác thực của họ bằng phương pháp khoa học.
U.G.: Tôi e rằng các bạn đang phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khi thậm chí chỉ mới nghĩ đến chuyện xem xét các tuyên bố của những người đó. Mọi thứ đều cần được kiểm chứng.
Hỏi: Thứ duy nhất chúng tôi có để làm việc là số liệu thống kê và dữ liệu từ cái gọi là “sự bình thường”, ngoài ra không có gì hơn.
U.G.: Câu trả lời cho vấn đề này – cũng như mọi vấn đề khác của các bạn – phải đến từ chính các bạn, chứ không phải từ mấy ông du-già hay hành giả thiền định. Có thể các bạn đang mắc phải một sai lầm khủng khiếp. Đây là điều tôi cũng đã nói với các nhà tâm lý học phương Tây. Các bạn không có mối quan hệ khách quan nào với dữ liệu và tri thức mà mình thu thập. Việc các bạn liên tục diễn giải dữ liệu nghĩa là các bạn đang bị cuốn vào thứ mà mình đang nghiên cứu; không hề có một thực thể tách biệt nào ở đây. Chính người diễn giải mới là yếu tố quan trọng nhất.
Hỏi: Nhưng rõ ràng là việc nghiên cứu con người là điều khả thi và cần thiết mà…
U.G.: Trước hết, bạn ta phải tự hiểu chính mình. Vậy dữ liệu, tri thức – và cả những lý thuyết mà các bạn rút ra từ đó – có giúp gì được không? Từ quan điểm của tri thức, thì không có cách nào để hiểu được chính mình. Một cỗ máy tính không bao giờ tự hỏi: “Mình đang vận hành thế nào?” Việc thật sự hiểu bản thân không nằm ở chỗ tích lũy dữ liệu, mà đòi hỏi một bước nhảy lượng tử. Tôi thích dùng ví dụ về vật lý Newton. Trong khuôn khổ Newton, mọi thứ vận hành theo một cách nhất định. Nhưng rồi một nhà khoa học khác xuất hiện, người có thể gạt bỏ các giả định của Newton, và từ đó nhìn thấy một chiều kích hoàn toàn mới của vật lý. Cũng giống như các nguyên lý Newton cuối cùng đã trở thành cái áo bó siết chặt tư duy sáng tạo, thì dữ liệu của các bạn về tính độc nhất của con người cũng ngăn trở cái nhìn mới mẻ về sự vật – và cả về chính mình.
Tôi cũng thích dùng ví dụ về Picasso. Ông cũng gặp vấn đề tương tự: ông muốn khai phá một con đường mới, tìm ra những kỹ thuật mới. Ông đã tạo ra một bước đột phá và sau này trở thành hình mẫu cho người khác. Giờ đây, những họa sĩ rẻ tiền đang bắt chước phong cách của ông. Một ngày nào đó, vật lý Einstein cũng sẽ phải nhường chỗ cho một hệ thống tri thức mới. Tôi cho rằng, thiên nhiên đang cố gắng tạo ra một cá thể độc nhất mỗi khi tạo nên điều gì đó. Thiên nhiên dường như không dùng bất kỳ ai làm mẫu. Khi đã hoàn thiện một cá thể độc nhất, thì cá thể ấy bị loại ra khỏi quá trình tiến hóa và không còn mấy quan tâm với thiên nhiên nữa.
Đó là lý do vì sao bất kỳ tôi là ai, bất kỳ điều gì tôi nói, đều không thể được sao chép lại bởi người khác. Vì thế, việc đó không thể truyền đạt, và nó không có giá trị gì về mặt xã hội. Thiên nhiên không cần đến tôi, và xã hội cũng vậy. Khi chúng ta dùng các hình mẫu như Jesus, Đức Phật hay Krishna, chúng ta đã phá hủy khả năng thiên nhiên có thể tạo ra những cá thể độc nhất. Những ai khuyên bạn hãy quên đi sự độc nhất tự nhiên của mình và hãy trở thành ai đó khác – dù người đó có thánh thiện đến đâu – đều đang đưa bạn đi sai đường. Đó chẳng khác nào người mù dắt người mù.
Khi tiếp cận mấy ông du-già và thánh nhân, bước đi sai lầm đầu tiên của các bạn là cố gắng liên hệ cách mà họ đang vận hành với cách mà các bạn đang vận hành. Những gì họ mô tả có thể chẳng liên quan gì đến cách mà các bạn đang sống cả.
Sự độc nhất không phải là thứ có thể sản xuất hàng loạt như trong nhà máy. Xã hội chỉ quan tâm đến sự ổn định hiện trạng, và đã cung cấp tất cả những “cá thể đặc biệt” kia để các bạn có mô hình mà bắt chước. Các bạn muốn trở thành người đó – vị thánh, vị cứu thế, hay nhà cách mạng – nhưng đó là điều bất khả thi. Xã hội của các bạn, vốn chỉ muốn tạo ra các bản sao của những hình mẫu được chấp nhận, sẽ cảm thấy bị đe dọa bởi một cá thể thật sự độc nhất – bởi cá thể ấy đe dọa sự tiếp nối của nó. Một người thật sự độc nhất, không có bất kỳ điểm tham chiếu văn hóa nào, sẽ không bao giờ biết rằng mình là độc nhất.
Hỏi: Nhưng chẳng phải chính sự hiện diện của một người độc nhất, một cá nhân nở hoa trọn vẹn, có thể giúp người khác theo một cách nào đó – không phải bằng việc trở thành hình mẫu, mà có thể là bằng cách khơi gợi sự thay đổi và tính độc nhất trong người khác?
U.G.: Tôi nói là không. Bởi vì một cá thể độc nhất không thể tự tái tạo – cả về thể chất lẫn tinh thần – thiên nhiên xem họ là vô dụng. Thiên nhiên chỉ quan tâm đến việc sinh sản, và thỉnh thoảng ném ra một “ngoại lệ” hay “cá thể kỳ dị”. Nhưng cá thể này, không thể tự tái tạo, thì đã xong vai trò của mình trong quá trình tiến hóa, và cũng không hề có ý định biến mình thành hình mẫu cho bất kỳ ai. Đó là tất cả những gì tôi đang nói.
Hỏi: Vậy chẳng phải chính việc thiên nhiên tạo ra sự độc nhất đó là biểu hiện của sự nở hoa nơi một cá thể hay sao?
U.G.: Điều đó là điều tất yếu sẽ xảy ra ở những cá thể mà – bằng một sự tình cờ hay tai nạn nào đó – đã có thể giải thoát khỏi gánh nặng của toàn bộ quá khứ. Nếu toàn bộ tri thức và kinh nghiệm tập thể của loài người bị vứt bỏ, thì thứ còn lại là một trạng thái sơ nguyên và nguyên thủy – nhưng không còn sự thô sơ. Loại người đó không có ích gì cho xã hội cả. Như một tán cây râm mát, người đó có thể cho bóng mát, nhưng chẳng bao giờ ý thức được mình đang làm như vậy. Nếu bạn ngồi dưới tán cây đó, một trái dừa có thể rơi trúng đầu bạn; điều đó cũng có thể gây nguy hiểm. Vì lẽ đó, xã hội có thể cảm thấy bị đe dọa bởi cá nhân đó. Xã hội này, vốn được cấu trúc như hiện tại, hoàn toàn không thể dùng đến người như thế.
Tôi không tin vào chuyện “lợi lạc cho thế gian” (lokasamgraha), hay “giúp đỡ nhân loại”, “bi mẫn với nỗi khổ trần gian”, “giảm bớt nghiệp nặng cho thế giới”, hay mấy chuyện đại loại như vậy. Không ai chỉ định tôi làm đấng cứu thế cho nhân loại cả.
Hỏi: Vậy, ông đang nói rằng, đúng không, rằng không một phương pháp khoa học, phương pháp du-già hay thiền định nào có thể liên hệ đến sự độc nhất và tự do mà ông đang nói đến?
U.G.: Tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện về việc đó. Khi còn trẻ, tôi từng tập Yoga trên dãy Himalaya suốt bảy năm cùng với Sivananda Saraswati. Nhưng nó không giúp được gì, nên tôi từ bỏ. Sau “tai ương” của mình vào năm 1967, tôi cảm thấy cơ thể mình không thể chịu nổi những bùng nổ năng lượng mãnh liệt đang diễn ra. Vì vậy, tôi bàn với một người bạn là Sri Desikachar, một giáo viên yoga. bạn ấy nói: “Tôi không biết mình có giúp được gì không. Có lẽ cha tôi (tiến sĩ Krishnamacharya ở Madras) có thể giúp bạn.” Thế là tôi lại thực hành một vài kỹ thuật yoga. Nhưng chẳng bao lâu sau tôi nhận ra rằng toàn bộ việc tập yoga đi ngược lại cách vận hành tự nhiên của cơ thể. Tôi cố gắng trao đổi với họ, nhưng những điều tôi nói không khớp với “Yoga Sutras” của Patanjali, nên chúng tôi không thể giao tiếp được. Cuối cùng, tôi tuyên bố với họ rằng tôi sẽ từ bỏ việc luyện tập yoga.
Khi một sinh thể đã tự giải phóng khỏi gọng kìm của tư tưởng, bất kỳ điều gì bạn làm để cố đạt tới hòa bình hay hài hòa đều chỉ tạo ra bất hòa và bạo lực. Nó giống như việc dùng chiến tranh để tạo ra hòa bình trong một thế giới vốn đã bình yên. Khi chính cái sự truy cầu đi đến hồi kết, nó kết thúc bằng một cú “bùm” lớn, như thể là vậy. Khi ấy, sự bình an là thứ không thể luyện tập hay dạy bảo được.
Hỏi: Tôi không nghĩ chúng tôi thực sự quan tâm tới kiểu “bùm lớn” đó. Chúng tôi chỉ muốn một chút trí huệ, một chút tĩnh tại thôi.
U.G.: Vậy là một người đang đói bụng lại cảm thấy mãn nguyện với vài mẩu vụn bánh được ném cho mình. Chẳng mấy chốc, bạn ta sẽ muốn cả ổ bánh và rồi sẽ được hứa hẹn điều đó bởi mấy ông thánh đang bán đạo ngoài chợ. Nhưng vấn đề không nằm ở sự thỏa mãn cơn đói. Cơn đói ấy, cùng với cuộc tìm kiếm mà nó kéo theo, chính là vấn đề.
Nếu bạn gạt bỏ những mô hình hư cấu về vị thánh và bậc giác ngộ, thì bạn chỉ còn lại cấu trúc sinh học tự nhiên. Cấu trúc phân ly của tư tưởng – thứ đã được đưa vào ý thức con người từ rất lâu – chính là thứ đã tạo ra thế giới bạo lực này và có thể sẽ đẩy nhân loại cùng các loài sinh vật khác trên hành tinh này đến bờ vực tuyệt diệt. Nhưng về mặt sinh học, mỗi tế bào đều có trí khôn để tránh xa các mô hình và lời hứa, và đơn thuần chỉ vì bản năng sinh tồn mà phối hợp với tế bào bên cạnh. Từ nỗi kinh hoàng trước sự diệt vong, con người – cũng như các tế bào trong cơ thể họ – sẽ học cách hợp tác, nhưng không phải vì yêu thương hay từ bi.
Hỏi: Nhưng đằng sau sự hợp tác sinh học ấy và sự nở hoa của tính cá thể, chẳng lẽ không có một điều gì siêu việt đang tìm cách vươn ra…?
U.G.: Tôi không nghĩ vậy. Nó mang tính cá thể sâu sắc – không theo nghĩa thông thường như văn hóa định nghĩa – mà theo một cách khác. Việc kiểm soát cơ thể bằng tư tưởng đã hủy hoại khả năng để con người phát triển thành những con người trọn vẹn, thế thôi. Bạn có thể gạt bỏ khái niệm – vốn đang rất phổ biến – rằng “nhận thức” có thể mang lại bất kỳ sự thay đổi nào về chất nơi bạn. Thiên nhiên đang cố tạo ra một cá thể độc nhất nơi đó.
Tiềm năng đã sẵn có trong bạn. Nhưng ở đâu đó trên hành trình, loài người đã đi sai đường – và dường như không có lối ra.
Hỏi: Liên quan đến sự nở hoa của cá thể, một câu hỏi cứ lặp lại là: “Tại sao lại không phải là tôi?”
U.G.: Quên nó đi. Bạn chẳng có cơ hội nào đâu. Không có gì bạn có thể làm. Tôi không biết phải khuyên bạn làm gì nữa. Bạn đang mắc kẹt. Có lẽ các nhà di truyền học và vi sinh học sẽ tìm ra câu trả lời. Nhưng tôi có thể cam đoan với bạn rằng đám “thánh thần” sẽ chẳng giúp ích được gì cho bạn cả. Hơn nữa, nếu nhà nước nắm được công nghệ thao túng gen, họ sẽ dùng nó để tước bỏ nốt chút tự do cuối cùng của con người. Và lúc đó, mọi thứ thực sự chấm hết.
Chúng ta lại có thể dùng hình ảnh ví von về máy tính. Giờ đây, chúng đã trở nên tinh vi đến mức có thể tự tư duy và tự điều chỉnh. Có thể một ngày nào đó, ta chỉ cần “cắm điện” và làm theo lời khuyên của chúng. Nếu bạn để cho cơ thể mình hoạt động như một máy tính, thì bạn sẽ thấy được điều đó. Trí tuệ phi thường của cơ thể sinh học là tất cả những gì cần thiết để sống tốt. Nhưng ta cứ luôn can thiệp vào hoạt động tự nhiên đó qua trung gian của tư tưởng. Máy tính sinh học “tự nhiên” nơi cơ thể bạn đã được lập trình, ấn nút, và khởi động sẵn rồi!
Bạn không cần phải làm gì cả! Nhưng ta đã cách rất xa tình trạng nguyên sơ ấy. Và rồi, bằng một cách nào đó, điều gì đó giáng xuống bạn như tia sét và thiêu rụi toàn bộ mọi thứ. Con người đó – chẳng còn là tội nhân hay thánh nhân – đã ở rất xa bên ngoài mọi khuôn khổ của xã hội.
Hỏi: Vậy, thứ duy nhất chúng ta có thể “thực hành”, nếu gọi là vậy, là không can thiệp?
U.G.: Nhưng cố gắng tránh can thiệp tức là bạn vẫn đang chờ đợi một điều kỳ diệu xảy ra. Chính sự chờ đợi đó ngăn cản khả năng cho bất kỳ điều gì xảy ra. Tôi đang nói với bạn tất cả những điều này từ kinh nghiệm bản thân. Suốt 49 năm tôi đã đi tìm một người tên là “U.G.”. Cả nền văn hóa đã đẩy tôi đi sai đường. Tôi đã thử tìm đến các vị thầy đã chết lẫn còn sống. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng cuộc tìm kiếm ấy vô nghĩa, rằng “kẻ thù là chính tôi”. Giờ đây, toàn bộ tri thức, cùng với cuộc tìm kiếm nó tạo ra, đã bị gột sạch khỏi hệ thống của tôi hoàn toàn.
Hỏi: Và ông không cảm thấy có bất kỳ trách nhiệm nào để giúp người khác hiểu điều này sao…?
U.G.: Đây không phải là thứ có thể đem ra bán, thưa ông! Nó đơn giản chỉ là sự vắng mặt của một đòi hỏi sai lầm – thứ đòi hỏi đã bị nhồi nhét vào chúng ta bởi xã hội và văn hóa. Đòi hỏi phải thay đổi bản thân và thay đổi thế giới – cả hai – đều biến mất khỏi hệ thống cùng lúc. Tôi không chống đối xã hội, cũng không biết ơn xã hội. Tôi không cảm thấy mình có bất kỳ nghĩa vụ nào phải đóng vai hay giúp đỡ đồng loại. Tất cả những điều đó là nhảm nhí.
Hỏi: Vậy thì, mong muốn thay đổi thế giới – dù có cao đẹp đến đâu – rốt cuộc cũng là một hoạt động vị kỷ, ích kỷ. Có phải ông đang nói vậy?
U.G.: Người đang cố gắng thoát khỏi thế giới, hoặc khỏi cái mà bạn ta gọi là “cái ác”, thực ra là kẻ ích kỷ nhất. Cái nhận thức làm chấn động tất cả, cái cuối cùng lóe lên trong bạn, là: không hề có cái gọi là “bản ngã”! Cái nhìn thấu ấy phá vỡ tất cả bằng một lực mạnh khủng khiếp khi nó ập đến. Đây không phải là một trải nghiệm có thể chia sẻ với người khác. Nó không phải là một trải nghiệm. Đó là một tai ương – trong đó cả người trải nghiệm và trải nghiệm đều kết thúc. Một người ở trong trạng thái đó không còn trốn tránh thực tại, và cũng không mang những mộng tưởng lãng mạn. Người ấy không ấp ủ những ý niệm nhân bản về việc “cứu rỗi thế giới”, bởi người ấy biết rằng bất kỳ điều gì ta làm để “cứu nó” chỉ càng đẩy nó tiến xa hơn. Người ấy biết rằng không có gì bạn có thể làm được cả…
Hỏi: Nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục sống và hành động. Vậy làm sao có thể hình dung ra một hành động mà không tiếp thêm động lực cho sự hỗn loạn của xã hội?
U.G.: Đó lại chỉ là một ý niệm khác nữa thôi. Hành động của bạn và hệ quả của hành động đó là một sự kiện duy nhất. Chính kiểu tư duy logic theo nhân-quả đã áp đặt lên sự kiện đó một chuỗi trình tự. Việc ánh sáng lóe lên và cái công tắc đèn được bật lên “trước đó” – thực ra chỉ là một. Chúng chỉ có vẻ như là hai hay nhiều sự kiện vì thời gian đã tạo ra một khoảng cách giữa chúng. Nhưng thời gian và không gian – nếu không tính đến khái niệm về chúng – thì vốn chẳng tồn tại chút nào.
Sáng tạo và hủy diệt đang xảy ra cùng lúc. Sự sinh và diệt của tư tưởng cũng diễn ra đồng thời. Đó là lý do tôi khẳng định rằng chẳng hề có cái gọi là “cái chết”. Ngay cả cơ thể cũng không chết; nó có thể đổi dạng, nhưng không chấm dứt hoàn toàn. Bởi vì cái chết thật sự không tồn tại, nên bạn không thể nào trải nghiệm nó được. Thứ mà bạn trải nghiệm, là khoảng trống – cảm giác trống rỗng khi hình hài của ai đó “chết” biến mất. Cái chết thì không thể trải nghiệm – và sinh ra, cũng vậy. Trong trạng thái tự nhiên, nơi cơ thể được vận hành mà không có sự can thiệp của tư tưởng, thì sinh và tử đang diễn ra mọi lúc.
Hỏi: Vậy trong trạng thái tự nhiên mà ông đang nói đến, có tồn tại bất kỳ thực thể tâm lý nào – như nhân cách, bản ngã, cái tôi hay danh tính – hay không?
U.G.: Không có “con người” nào cả, và cũng không có không gian bên trong để tạo ra một “cái tôi”. Khi sự liên tục của tư tưởng bị thổi bay, thứ còn lại chỉ là một chuỗi những tương tác rời rạc và độc lập. Điều gì xảy ra trong môi trường quanh tôi, cũng đồng thời xảy ra bên trong. Không có sự phân chia. Khi lớp áo giáp quanh bạn bị bóc đi, bạn sẽ thấy một sự nhạy cảm phi thường của các giác quan – chúng phản ứng với chu kỳ của mặt trăng, sự đổi mùa, và cả chuyển động của các hành tinh. Không còn sự hiện hữu biệt lập, riêng lẻ nào nữa – chỉ còn sự rung động của sự sống, như một con sứa.
Hỏi: Ông có thể mô tả đôi chút về quá trình “chết đi lặp lại” mà ông đang trải qua không?
U.G.: Nó, dĩ nhiên, là điều không thể mô tả. Nhưng tôi có thể nói rằng trong trạng thái chết đó, hơi thở thông thường hoàn toàn dừng lại, và cơ thể có thể “thở” thông qua các phương tiện sinh lý khác. Trong số nhiều bác sĩ tôi đã thảo luận về hiện tượng kỳ lạ này, chỉ có Dr. Leboyer, một chuyên gia về sinh nở, đưa ra cho tôi một lời giải thích nào đó. Ông ấy nói rằng trẻ sơ sinh có cách thở tương tự như vậy. Có lẽ đây là ý nghĩa ban đầu của từ pranayama. Cơ thể này trải qua quá trình chết mỗi ngày, nhiều lần đến mức, thực tế là, mỗi lần nó tự tái sinh thì nó lại được kéo dài thêm thời gian sống. Khi một ngày nào đó nó không thể tự tái tạo lại nữa, thì nó chấm dứt và bị đưa đến bãi tro.
Quá trình chết này mới chính là yoga, chứ không phải hàng trăm tư thế và bài tập thở. Khi tiến trình tư duy ngừng việc tự tách làm đôi, cơ thể sẽ trải qua cái chết lâm sàng. Trước tiên phải có cái chết, sau đó mới có yoga. Yoga thực chất là kỹ năng của cơ thể trong việc tự đưa mình trở lại từ trạng thái chết lâm sàng. Điều này được cho là đã xảy ra với một vài người, như Sri Ramakrishna và Sri Ramana Maharshi. Tôi không có mặt ở đó và cũng không có hứng thú hay nguồn lực để tìm hiểu điều này có đúng không. Yoga tái sinh này là một điều phi thường. Nếu bạn quan sát một đứa trẻ sơ sinh, bạn sẽ thấy cách nó di chuyển và biểu hiện toàn bộ cơ thể mình, tất cả đều theo một nhịp điệu tự nhiên.
Sau khi hơi thở và nhịp tim gần như ngừng hoàn toàn, bằng cách nào đó cơ thể bắt đầu “trở lại”. Dáng vẻ như xác chết của cơ thể—sự cứng đờ, lạnh lẽo, và lớp tro bao phủ—bắt đầu biến mất. Cơ thể ấm lên và bắt đầu chuyển động, và quá trình trao đổi chất, bao gồm cả mạch đập, hoạt động trở lại. Nếu bạn, vì tò mò khoa học, muốn kiểm tra tôi, tôi không hứng thú. Tôi chỉ đang đưa ra một phát biểu, không phải đang bán một sản phẩm.
Vì vậy, nó giống với Thái Cực Quyền Trung Hoa hơn là các asana của Yoga cổ điển. Những chuyển động và tư thế mà cơ thể thực hiện khi phá vỡ sự cứng đờ còn sót lại từ quá trình chết là những chuyển động đẹp đẽ, uyển chuyển, giống như của một đứa trẻ sơ sinh. Các yogi hiện nay khuyên thực hiện savasana, tư thế xác chết, sau khi thực hiện bất kỳ tư thế chuyển động nào. Điều này là ngược đời. Bạn bắt đầu yoga như một cơ thể chết cứng, sau đó cơ thể được tái sinh thông qua các chuyển động nhịp nhàng tự nhiên. Có lẽ đã từng có một vị guru trải qua quá trình chết tự nhiên này và các đệ tử của ông, khi nhìn thấy ông trở lại cuộc sống, đã cố gắng sao chép quá trình chết này thông qua các kỹ thuật thở và tư thế. Họ đã làm ngược lại. Trước tiên, bạn phải chết, rồi mới có yoga.
Toàn bộ quá trình chết đi và tái sinh này, mặc dù xảy ra với tôi nhiều lần mỗi ngày và luôn ngoài ý muốn của tôi, vẫn luôn là điều khiến tôi tò mò. Nó chỉ đơn giản xảy ra từ hư không. Ngay cả ý nghĩ về bản thân hay cái tôi cũng đã bị tiêu diệt. Thế nhưng vẫn có một cái gì đó đang trải nghiệm cái chết này. Nếu không, tôi đã không thể mô tả nó ở đây.
Với sự vắng mặt của bất kỳ nhu cầu nào nhằm lặp lại hay sử dụng quá trình chết này, các giác quan được tự do hoạt động hết mức. Hơi thở, không còn bị chi phối bởi cấu trúc tư duy phân biệt, có thể phản ứng hoàn toàn với môi trường vật lý. Khi nhìn thấy một ngọn núi đẹp hay hoàng hôn, hơi thở đột ngột bị hút ra khỏi bạn, rồi quay trở lại, tất cả theo một nhịp điệu tự nhiên. Có lẽ từ “vẻ đẹp làm nín thở” bắt nguồn từ đây. Cách duy nhất để bạn nhận thức được những điều đang xảy ra xung quanh là thông qua những thay đổi tinh tế trong nhịp thở. Đó là một cơ chế tuyệt vời, và trong đó không có con người, không có sự vật gì cả…
Hỏi: Vậy việc “thở không bằng phổi” này chỉ là hiện tượng phụ của quá trình chết, như một tiết mục phụ thôi sao…?
U.G.: Không hẳn vậy. Đôi khi bạn chỉ ngồi đó và đột nhiên cảm thấy khó thở, gần như là hụt hơi. Nó giống như một luồng sinh khí thứ hai. Các yogi đang cố đạt được luồng sinh khí thứ hai này thông qua việc luyện tập nhiều kỹ thuật khác nhau. Các vận động viên chạy bộ cũng vậy. Nếu bạn quan sát các vận động viên, bạn sẽ thấy họ phải vượt qua một “bức tường” của kiệt sức và khó thở. Một khi vượt qua “bức tường” đó, họ chạy bằng luồng sinh khí thứ hai. Đối với tôi cũng như vậy. Nhưng ngay cả điều này cũng qua đi, và cuối cùng hơi thở hoàn toàn ngừng lại và cơ thể vượt qua phổi, thở chỉ bằng nhịp mạch của cơ thể. Đôi khi, khi không có ai để trò chuyện, tôi ngồi yên và để cho tất cả những điều kỳ lạ này diễn ra.
Hỏi: Các bác sĩ phương Tây chưa từng cố gắng mô tả những thay đổi về tuyến nội tiết đi kèm với quá trình chết này sao?
U.G.: Có, nhưng trong y học phương Tây, hiểu biết về loại hiện tượng như thế này rất hạn chế. Một nghiên cứu của bác sĩ Paul Lynn ở Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt trong cách hoạt động của tuyến ức của tôi. Nhưng còn có những tuyến khác cũng bị ảnh hưởng—tuyến tùng, tuyến yên và những tuyến khác nữa. Tuyến tùng, điều khiển toàn bộ chuyển động, hơi thở và sự phối hợp của cơ thể, bị ảnh hưởng rất mạnh. Khi cấu trúc tư duy phân tách bị tiêu diệt, các tuyến này và các đám rối thần kinh tiếp quản chức năng của cơ thể. Đó là một quá trình đau đớn, vì sự chi phối của tư tưởng lên các tuyến và đám rối này rất mạnh và phải được “đốt cháy” đi. Điều này có thể được một cá nhân cảm nhận được. Việc đốt cháy hay “ion hóa” đòi hỏi năng lượng và không gian để xảy ra. Vì lý do đó mà cơ thể chạm tới giới hạn của nó, với năng lượng phóng ra theo mọi hướng. Việc cơ thể cố giữ năng lượng ấy trong một hình thức giới hạn của mình gây ra đau đớn, mặc dù không có chủ thể nào đang cảm thấy đau đớn ở đó.
Quá trình chết đầy đau đớn này là điều không ai—ngay cả những tín đồ sùng đạo hay các yogi—muốn trải qua. Nó thực sự rất đau đớn. Nó không phải là kết quả của ý chí, mà là kết quả của một sự hội tụ ngẫu nhiên của các nguyên tử.
Làm sao tất cả những điều này phù hợp với cấu trúc khoa học của bạn, tôi không biết. Các nhà khoa học đang nghiên cứu trong lĩnh vực này chỉ quan tâm đến những thay đổi này nếu chúng được mô tả dưới dạng sinh lý học chứ không phải huyền bí. Những nhà khoa học này hình dung kiểu người như vậy là sản phẩm cuối cùng của quá trình tiến hóa sinh học, chứ không phải siêu nhân trong khoa học viễn tưởng hay những sinh linh tâm linh siêu phàm. Thiên nhiên chỉ quan tâm đến việc tạo ra một sinh thể có thể phản ứng đầy đủ và thông minh với các kích thích và tự sinh sản. Chỉ thế thôi. Cơ thể này có khả năng nhận biết và cảm nhận phi thường. Nó là một điều kỳ diệu. Tôi không biết ai đã tạo ra nó.
Hiện nay, các nhà khoa học nghiên cứu tiến hóa tin rằng giống người hiện tại có lẽ đã tiến hóa từ một loài suy thoái. Đột biến mang theo ý thức bản ngã có thể đã xảy ra ở một loài bị thoái hóa. Đó là lý do tại sao chúng ta đã làm rối tung mọi thứ. Không ai có thể đoán được liệu có ai đó có thể thay đổi toàn bộ điều này hay không.
Hỏi: Có thể nào một người sống sót sau toàn bộ quá trình chết này, một kiểu đột biến nào đó, có thể thay đổi vận mệnh của nhân loại, nói một cách nào đó?
U.G.: Những tuyên bố như vậy thực sự không có cơ sở, vì họ nói đến việc ảnh hưởng đến toàn bộ ý thức con người. Tôi nghĩ rằng ý thức con người trong tổng thể của nó là một thứ cực kỳ mạnh mẽ, với đà chuyển động riêng rất lớn. Tôi không nghĩ họ hiểu mình đang nói đến điều gì. Toàn bộ ý thức con người là một thứ rất đáng gờm. Ý thức duy nhất mà họ biết là ý thức do tư tưởng tạo ra.
Ý thức tư duy của con người chỉ có thể bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền, thuyết phục hoặc thuốc men. Bất kỳ sự thay đổi nào từ những nguồn đó đều chỉ xảy ra trong khuôn khổ cũ, và do đó vô dụng. Chúng ta có thể thay đổi gì? Có cần thay đổi không? Để làm gì? Tôi không biết.
Hỏi: Nghe như thể cần một loại đất đặc biệt để nuôi dưỡng kiểu đột biến mà ông mô tả. Tất cả chúng ta đều được nuôi lớn trên mảnh đất cằn cỗi, tầm thường và thiếu dưỡng chất. Chẳng phải một loại đất khác sẽ tốt hơn sao?
U.G.: Sự nhạy cảm vẫn còn đó, bất chấp mảnh đất kém cỏi. Toàn bộ bản thiết kế đã có sẵn, giống như cái cây đang ngồi ở đằng kia. Nếu bạn không tưới nước và nuôi dưỡng nó, nó sẽ chết. Không có gì bị mất đối với loài người cả. Đừng cố phát triển những công thức đất mới. Đó chính là điều chúng ta đã làm với cây cối và thực vật, và giờ chúng ta đang làm ô nhiễm cả hành tinh. Điều tương tự sẽ xảy ra nếu bạn cố gắng “lai tạo” ra một chủng loại con người tốt hơn.
Hỏi: Qua cách ông mô tả, dường như phải có một sự thay đổi triệt để trong nguồn gốc của bản ngã sau sự sụp đổ của cấu trúc phân tách. Có một cái “tôi” nào còn lại sau “vụ nổ” đó không? Cái “tôi” có chỉ nằm trong não bộ không?
U.G.: Không có cái “tôi” nào cả. “Tôi” chỉ là đại từ ngôi thứ nhất số ít mà thôi. Toàn bộ những suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm và hy vọng của nhân loại tạo nên cái gọi là “tôi”. Nó là sản phẩm của quá khứ. Cái “tôi” đó là biểu tượng cho tổng thể ý thức của con người.
Thực ra, không có một thực thể tâm lý riêng biệt, độc lập nào cả, chỉ có từ “tôi” thôi. Tương tự, chỉ có từ “tâm trí”, nhưng không có cái gì như “tâm trí của bạn” hay “tâm trí của tôi”.
Vì thế, từ “tâm trí” đã tạo ra tất cả chúng ta, đơn giản bởi vì nó cần mỗi chúng ta để duy trì sự liên tục của nó. Cấu trúc phân tách của cái mà ta gọi là “tâm trí” đã làm hỏng cơ chế sinh tồn tự nhiên của cơ thể đến mức mà xã hội của ta đã đẩy nó đến giới hạn chịu đựng. Bom H chỉ là sự mở rộng của viên cảnh sát được thuê để bảo vệ tôi và tài sản của tôi. Không còn có thể vạch ra ranh giới giữa hai điều đó nữa. Nhưng sự sống sót của cấu trúc phân tách đảm bảo sự hủy diệt cuối cùng của cơ thể vật lý.
Hỏi: Tại sao lời nói của ông không khơi dậy một hành động triệt để nào nơi chúng tôi…?
U.G.: Cơ hội mà lẽ ra có thể xảy ra đã bị đánh mất, vì bất kỳ điều gì đã được nói ở đây đều đã bị tiếp nhận bởi và trở thành một phần của cấu trúc cũ của bạn. Cái mà bạn gọi là nhạy cảm với những điều đã được nói ra không hề sâu sắc. Mọi thứ từng là chướng ngại vẫn còn đó. Trên thực tế, nó đã được củng cố thêm bởi cuộc trò chuyện này. Bản ngã sẽ sử dụng bất cứ thứ gì để tự duy trì; không có gì là thiêng liêng cả. Nếu bạn cố gắng đào sâu và phá vỡ những gì đang có, thì cũng chỉ là với mục đích xây dựng một siêu cấu trúc mới.
Hỏi: Tại sao ông lại cho là như vậy?
U.G.: Bởi vì mọi việc luôn diễn ra như vậy.
Hỏi: Giả sử tôi thực sự nghiêm túc và bằng cách nào đó khám phá ra điều đó…
U.G.: Không có “giả sử” nào hết! Điều đã xảy ra với tôi là không có nguyên nhân; nó chỉ xảy ra thôi. Bất chấp tất cả nỗ lực, đấu tranh và ý định của tôi, điều này đã xảy ra với tôi, và đó là điều kỳ diệu nhất trong mọi điều kỳ diệu. Bạn không thể làm cho nó xảy ra. Nó không thể lặp lại, vì khi nó chạm đến bạn, nó chạm vào một nơi và thời điểm chưa từng được sự sống chạm đến. Nó không phải là một trải nghiệm, do đó không thể truyền đạt hay chia sẻ. Nó là một sinh vật hiếm hoi, thế thôi. Tất cả những gì bạn có thể làm là đặt nó vào viện bảo tàng và ngắm nhìn nó, nhưng bạn không bao giờ có thể lặp lại hay chia sẻ nó.
Hỏi: Thật đáng sợ khi nghĩ đến việc sống mà không có trung tâm, bản ngã, hay điểm quy chiếu nào…
U.G.: Điểm quy chiếu, cái “tôi”, không thể bị loại bỏ thông qua bất kỳ ý chí nào của bạn. Cuối cùng thì đó là chương trình đã được mã hóa sẵn trong gene của bạn, là “kịch bản” của bạn. Để thoát khỏi định mệnh di truyền đáng thương ấy, để vứt bỏ “kịch bản” đó, đòi hỏi một sự can đảm khủng khiếp. Bạn phải gạt bỏ mọi thứ sang một bên để khám phá ra. Vấn đề của bạn không phải là làm sao để đạt được điều gì đó từ ai đó, mà là làm sao từ chối mọi thứ được ai đó đưa ra. Thực ra không có cái gọi là “làm sao” cả. Điều đó đòi hỏi một thứ dũng khí đi trước cả lòng can đảm, vì sự hiện diện của nó ngụ ý rằng điều gì đó vĩ đại—điều bất khả—đã xảy ra. Không một sự tu dưỡng nào, dù là sự khiêm nhường hay can đảm, sẽ giúp ích được gì. Bạn chẳng thể làm gì cả, vì điều này liên quan đến toàn thể bản thể bạn, còn bất cứ điều gì bạn làm chỉ là một phần, một mảnh vụn. Bạn phải hoàn toàn bất lực…
Khi tôi ngồi đây và mở mắt, toàn bộ bản thể tôi là đôi mắt. Đó là một “tầm nhìn toàn cảnh” khủng khiếp, với mọi thứ đi xuyên qua bạn. Cái nhìn của bạn mãnh liệt và không bị phân tâm đến mức đôi mắt không hề chớp, và không còn chỗ cho một cái “tôi” nào đang nhìn. Mọi thứ nhìn tôi, chứ không phải ngược lại. Cũng như với đôi mắt, mọi giác quan khác cũng vậy, mỗi cái có cuộc sống riêng biệt của nó. Phản ứng giác quan, vốn là tất cả những gì có ở đó, không bị điều chỉnh, kiểm duyệt hay phối hợp, mà được để yên để rung động trong cơ thể. Có một sự phối hợp nào đó nảy sinh khi cơ thể cần hoạt động để tồn tại và vận hành một cách cơ học. Chỉ có sự phối hợp cần thiết được phép xảy ra để phản ứng với tình huống nhất định. Sau đó, mọi thứ lại trở về nhịp điệu rời rạc, độc lập của riêng chúng.
Đừng dịch những gì tôi đang nói ở đây thành “phúc lạc”, “hạnh phúc vô biên” hay “giác ngộ”. Nó thực ra là một tình huống đáng sợ và gây hoang mang. Nó chẳng liên quan gì đến những trải nghiệm gọi là tâm linh hay huyền bí. Tôi hoàn toàn không thấy có lý do gì để gán cho nó một màu sắc tôn giáo hay tâm linh nào cả. Tôi chỉ đang mô tả một cách vận hành sinh lý đơn giản của cơ thể con người. Mặc dù tất cả những điều này không tách rời khỏi tự nhiên, nó sẽ không bao giờ phù hợp với bất kỳ nghiên cứu tự nhiên hay tri thức khoa học nào.
Hỏi: Vậy là ông phải từ chối tất cả sao?
U.G.: Không phải là từ chối. Cái mà bạn đang từ chối, và hành động từ chối đó, hoàn toàn không liên quan gì đến cách mà cơ thể bạn hiện đang vận hành. Khi điều này được nhìn thấy một cách rõ ràng, thì không còn gì để từ chối hay từ bỏ nữa. Bạn chỉ sẵn sàng từ bỏ để rồi đạt được điều gì đó — chỉ có vậy thôi. Kinh Upanishad của bạn nói rằng điều đó phải là đối tượng của những khát khao cao cả và tha thiết nhất của bạn. Nhưng tôi nhấn mạnh, ngược lại, rằng chính khao khát đó phải chấm dứt. Chính sự tìm kiếm, dù bạn cho rằng nó cao cả đến mức nào, đang làm bạn rối loạn. Hãy quên đi những ham muốn nhỏ nhặt mà bạn đã được khuyên là nên kiểm soát. Khi ham muốn của mọi ham muốn không còn nữa, thì những ham muốn khác cũng trở nên không còn quan trọng.
Hỏi: Bạn không nói rằng, chỉ vì điều đã xảy ra với bạn không thể được đánh giá một cách khoa học trọn vẹn, mà những sự kiện, sự vật, và con người thông thường cũng không thể được cảm nhận đầy đủ, đúng không?
U.G.: Chắc chắn là không. Trong khuôn khổ đó, mọi thứ đều có giá trị — giá trị tương đối. Nhưng “hiện thực” mà bạn muốn nghiên cứu là thứ được tạo ra bởi tâm thức hay cái tôi, và tôi kiên quyết phủ nhận cả hai. Do đó, việc tìm kiếm hiện thực, tính xác thực về tâm lý, hay sự tự ngộ đều là vô nghĩa với tôi. Chúng là sản phẩm của những con người đầy sợ hãi. Quy trình khoa học, chứ không phải cái tôi, mới cung cấp cho bạn một điểm tham chiếu để bạn có thể đo lường tính đúng sai trong những điều tôi nói.
Hãy nhìn xem, tôi đã thử mọi cách để tìm ra câu trả lời cho nỗi ám ảnh cháy bỏng của mình: “Có thật sự tồn tại sự giác ngộ, hay tất cả chúng ta đều đã bị lừa bởi những khái niệm trừu tượng?” Chính sự thất vọng tột cùng và thất bại hoàn toàn trong việc trả lời câu hỏi đó đã tạo nên một cường độ mãnh liệt. Một phần ba đầu đời tôi sống ở Ấn Độ, quanh quẩn với các nhà Thông Thiên học, J. Krishnamurti, các đạo sĩ, các vị thánh nhân, Ramana Maharshi, giáo đoàn Ramakrishna — nói ngắn gọn, là tất cả những ai có thể đem lại lợi ích cho một người quan tâm đến những vấn đề tâm linh. Tôi tự mình phát hiện ra rằng tất cả đều là giả dối, hoàn toàn không có gì cả. Quá thất vọng với toàn bộ truyền thống tôn giáo phương Đông lẫn phương Tây, tôi lao mình vào tâm lý học hiện đại, khoa học và bất cứ điều gì mà thế giới vật chất có thể mang lại cho tôi.
Tôi tự mình phát hiện ra rằng ý niệm về tâm linh hay linh hồn là sai lầm. Khi tôi thử nghiệm và nghiên cứu thế giới vật chất, tôi lại ngạc nhiên khi thấy rằng chẳng có cái gì gọi là vật chất cả. Khi tôi phủ nhận cả nền tảng tâm linh lẫn vật chất của sự vật, tôi chẳng còn nơi nào để quay về. Tôi bắt đầu trôi dạt theo cách của riêng mình, không thể tìm ra câu trả lời từ bất kỳ nguồn nào. Rồi một ngày, sự vô ích của tất cả những gì tôi đang làm đã lóe lên với tôi, và câu hỏi đã ám ảnh tôi gần như suốt cuộc đời bị thiêu cháy rồi biến mất. Sau đó, không còn câu hỏi nào nữa. Cơn khát tự nó đã cháy rụi mà không bao giờ được thỏa mãn. Không phải là có được câu trả lời, mà là sự kết thúc của mọi câu hỏi mới là điều quan trọng. Dù mọi thứ đã bị thiêu rụi, vẫn còn lại những tàn tro để thể hiện chính nó theo một nhịp điệu tự nhiên. Việc sự thể hiện đó ảnh hưởng gì đến xã hội quanh tôi không phải là mối quan tâm của tôi.