Trang chủ » 1. Sự Chắc Chắn Phá Vỡ Mọi Thứ

1. Sự Chắc Chắn Phá Vỡ Mọi Thứ

by Phạm Hậu
54 views

U.G.: Tôi không bao giờ có thể ngồi trên bục để nói chuyện. Việc đó quá giả tạo. Thật phí thời gian khi ngồi bàn luận những điều mang tính giả định hay trừu tượng. Một người đang giận không thể ngồi xuống nói chuyện nhẹ nhàng về cơn giận của mình – bạn ta đang quá giận. Vậy nên đừng nói với tôi rằng bạn đang trong khủng hoảng, rằng bạn đang giận dữ. Tại sao lại phải nói về cơn giận? Bạn sống và chết trong hy vọng rằng một ngày nào đó, bằng cách nào đó, bạn sẽ không còn giận nữa. Bạn bị đè nặng bởi hy vọng, và nếu cuộc đời này có vẻ như vô vọng, bạn sẽ tạo ra một đời sau. Nhưng không có đời sau nào cả.

Người hỏi: Chà, ít nhất thì không thể nói rằng những lời ông nói mang lại hy vọng cho ai cả. Vậy tại sao ông lại nói chuyện, nếu không phải để an ủi hay chỉ dẫn?

U.G.: Vậy tôi phải làm gì đây? Bạn đến, tôi nói. Bạn muốn tôi chỉ trích bạn, ném đá vào bạn à? Điều đó vô ích thôi, vì bạn chẳng bị gì tác động được nữa – bạn đã dựng lên một lớp giáp không thể xuyên thủng quanh bản thân. Bạn không còn cảm nhận được gì nữa. Không thể hiểu được hoàn cảnh của mình, bạn phản ứng bằng suy nghĩ – tức là bằng ý tưởng và tư duy của bạn. Phản ứng chính là suy nghĩ. Nỗi đau mà bạn đang trải qua ở đó được phản chiếu rõ ràng ở đây mà không cần phải trải nghiệm nỗi đau đó trực tiếp. Ở đây không có trải nghiệm nào cả. Chỉ vậy thôi. Trong trạng thái tự nhiên này, bạn cảm được nỗi đau của người khác, dù bạn có quen họ hay không. Gần đây, con trai cả của tôi đang chết vì ung thư tại một bệnh viện gần đây. Tôi ở gần đó và thường xuyên đến thăm nó. Bạn bè nói rằng tôi đau đớn suốt thời gian đó, cho đến khi nó qua đời. Nhưng tôi chẳng thể làm gì được. (Nỗi đau ấy) chỉ là một biểu hiện của sự sống. Họ muốn tôi thử một cách chữa trị nào đó cho ung thư của nó. Nhưng nếu tôi chạm vào khối u đó, nó sẽ phát triển, vì tôi đang tiếp thêm sự sống cho nó. Ung thư là sự nhân lên của các tế bào – một biểu hiện khác của sự sống – và bất cứ điều gì tôi làm cũng chỉ khiến nó mạnh thêm mà thôi.

Người hỏi: Vậy là ông có thể cảm nhận được sự đau khổ của người khác mà bản thân không bị dính vào, có đúng không?

U.G.: Khổ đau là một trải nghiệm, mà ở đây thì không có trải nghiệm nào cả. Bạn không phải là một thứ gì đó, và sự sống lại là một thứ khác. Đó là một chuyển động thống nhất, và bất cứ điều gì tôi nói về nó cũng đều gây hiểu lầm, gây rối. Bạn không phải là một “con người”, không phải là một “thứ gì đó”, không phải là một thực thể riêng biệt bị bao quanh bởi những “thứ khác”. Chuyển động thống nhất đó không phải là thứ mà bạn có thể trải nghiệm được.

Người hỏi: Nhưng nói về sống mà không trải nghiệm thì nghe có vẻ phi lý đối với tư duy của chúng tôi.

U.G.: Những gì tôi nói mâu thuẫn với cấu trúc logic của các bạn. Các bạn đang dùng logic để tiếp tục duy trì cấu trúc phân ly đó, chỉ vậy thôi. Các câu hỏi của bạn cũng lại là tư duy, tức là phản ứng. Mọi tư duy đều là phản ứng. Các bạn đang cố sức bảo vệ lớp áo giáp này – lớp khiên tư duy – và sợ hãi rằng dòng sống có thể sẽ phá vỡ những ranh giới của các bạn. Cuộc sống giống như một dòng sông đang cuồn cuộn, vỗ mạnh vào bờ, đe dọa phá vỡ các giới hạn mà các bạn đã dựng lên quanh nó. Cấu trúc tư duy của các bạn và cả khung sinh lý thực của các bạn là có giới hạn, nhưng sự sống thì không. Đó là lý do tại sao sống trong tự do lại gây đau đớn cho cơ thể; sự bùng phát năng lượng khủng khiếp diễn ra ở đây là điều gây đau đớn cho thân thể – nó thổi tung từng tế bào khi đi qua. Các bạn không thể nào tưởng tượng nổi điều đó, ngay cả trong giấc mơ hoang dại nhất của mình. Đó là lý do tại sao bất kể tôi diễn đạt thế nào, nó cũng gây hiểu lầm.

Người hỏi: Các vị đạo sư và tu sĩ cũng dạy chúng ta rằng không có cấu trúc phân ly, và rằng chính điều đó là cội nguồn của mọi vấn đề. Vậy ông khác họ ở điểm nào?

U.G.: Với bạn – và với họ – đó chỉ là lời nói. Niềm tin của bạn vào một chuyển động thống nhất của sự sống chỉ là một niềm tin vô căn cứ, không có gì chắc chắn. Bạn chỉ đang hợp lý hóa khéo léo những gì mà các đạo sư và sách thánh đã dạy. Niềm tin của bạn là kết quả của việc mù quáng chấp nhận quyền uy – toàn là kiến thức vay mượn. Bạn không tách rời khỏi những niềm tin ấy. Khi những niềm tin và ảo tưởng quý giá của bạn chấm dứt, bạn cũng chấm dứt. Việc tôi nói chỉ là phản ứng trước nỗi đau của bạn – nỗi đau mà bạn thể hiện qua các câu hỏi, lập luận logic và những tư duy khác.

Người hỏi: Nhưng rõ ràng việc ông ngồi đây và nói chuyện hàng giờ cho thấy rằng ông có một triết lý, một thông điệp nào đó, dù nó có thể khó được người nghe hiểu đúng.

U.G.: Không hề. Không có ai ở đây đang nói, đang đưa lời khuyên, đang cảm thấy đau hay đang trải nghiệm điều gì cả. Như một quả bóng bị ném vào tường – nó bật lại, chỉ vậy thôi. Việc tôi nói là kết quả trực tiếp từ câu hỏi của bạn. Tôi không có gì sẵn có ở đây – không thông điệp công khai hay ẩn giấu, không sản phẩm để bán, không mục tiêu để bảo vệ, không điều gì cần chứng minh.

Người hỏi: Nhưng thân xác là vô thường, và tất cả chúng tôi đều khao khát một dạng bất tử nào đó. Tự nhiên chúng tôi tìm đến triết lý cao cả, tôn giáo, tâm linh… Chắc chắn nếu…

U.G.: Chính cơ thể mới là bất tử. Nó chỉ thay đổi hình thức sau cái chết lâm sàng, tiếp tục tồn tại trong dòng chảy của sự sống dưới những hình dạng mới. Cơ thể không quan tâm đến “kiếp sau” hay bất kỳ hình thức vĩnh cửu nào. Nó chỉ vật lộn để sinh tồn và sinh sản ngay bây giờ. Cái “bên kia” là một sản phẩm tưởng tượng do tư tưởng tạo ra từ nỗi sợ – thực chất là khao khát kéo dài cái hiện tại trong một hình thức khác. Khát vọng lặp lại điều tương tự – một cách tinh tế hơn – chính là khao khát sự vĩnh hằng. Nhưng vĩnh hằng là điều xa lạ đối với cơ thể. Chính khát vọng vĩnh cửu của tư tưởng đang bóp nghẹt thân xác và làm méo mó nhận thức. Tư tưởng nghĩ rằng nó bảo vệ sự tiếp nối của chính nó, đồng thời cũng bảo vệ thân xác – cả hai đều sai hoàn toàn.

Người hỏi: Có vẻ như một thay đổi căn bản nào đó phải xảy ra, nhưng không thể có sự can thiệp của ý chí…

U.G.: Nếu nó xảy ra mà không có sự can thiệp của bạn, thì thế là hết. Bạn sẽ không thể dừng nó, không thể thay đổi được tình huống gì nữa. Bạn bắt buộc phải đi qua nó. Việc đặt câu hỏi về thực tại chẳng ích gì. Hãy đặt câu hỏi về các mục tiêu, niềm tin và giả định của bạn. Chính từ những thứ đó, chứ không phải thực tại, mà bạn cần được giải thoát. Những câu hỏi vô nghĩa mà bạn đang đặt ra sẽ biến mất khi những mục tiêu của bạn tự động rơi rụng. Chúng phụ thuộc lẫn nhau. Một cái không thể tồn tại nếu thiếu cái kia.

Người hỏi: Viễn cảnh đó quá khắc nghiệt. Chúng tôi sợ sự lãng quên, sợ bị tiêu diệt hoàn toàn.

U.G.: Nếu bạn chìm, thì bạn chìm. Nhưng bạn sẽ không chìm đâu. Mà cho dù tôi có trấn an bạn, thì cũng chẳng ích gì. Vô nghĩa thôi. Bạn sẽ vẫn tiếp tục làm những điều bạn đang làm – thậm chí ý nghĩa của nó chẳng bao giờ hiện ra trong đầu bạn. Tôi nói cho bạn biết: khi bạn thôi làm mọi thứ vì hy vọng và vì khao khát được tiếp nối, thì mọi thứ khác cũng ngừng lại. Bạn sẽ tự nổi. Nhưng vẫn còn đó hy vọng: “Chắc phải có cách nào đó, có lẽ tôi chưa làm đúng cách.” Nói cách khác, ta phải chấp nhận sự vô lý của việc bám víu vào bất kỳ điều gì. Ta phải đối diện với sự bất lực của chính mình.

Người hỏi: Chúng tôi chỉ cảm thấy rằng hẳn phải có một giải pháp nào đó cho các vấn đề của mình.

U.G.: Các vấn đề của bạn tiếp tục tồn tại là vì những giải pháp sai lầm mà bạn đã bịa ra. Nếu không có câu trả lời, thì câu hỏi cũng không tồn tại. Chúng lệ thuộc vào nhau – vấn đề và giải pháp đi đôi với nhau. Bởi vì bạn muốn dùng một số câu trả lời nào đó để chấm dứt các vấn đề, nên chúng cứ tiếp tục. Vô số giải pháp do những người “thánh thiện”, các nhà tâm lý học, chính trị gia đưa ra – thật ra chẳng phải là giải pháp gì cả. Rõ ràng rồi. Nếu có câu trả lời thực sự, thì đã chẳng còn vấn đề nữa. Họ chỉ có thể khuyên bạn cố gắng hơn, thực hành thiền nhiều hơn, tu dưỡng lòng khiêm hạ, trồng cây chuối ngược, và vô số chuyện tương tự. Chỉ vậy thôi. Những “thầy”, “guru” hay “lãnh tụ” đưa ra giải pháp – đều là giả. Và những “câu trả lời” mà họ đưa ra cũng giả nốt. Họ chẳng làm việc lương thiện gì cả – chỉ đang bán một món hàng rẻ tiền, tồi tàn ngoài chợ. Nếu bạn gạt bỏ hy vọng, sợ hãi và sự cả tin, và đối xử với những người đó như thương nhân, bạn sẽ thấy rằng họ chẳng cung cấp được món hàng nào cả – và cũng chẳng bao giờ làm được đâu. Nhưng bạn vẫn cứ tiếp tục mua những món hàng giả đó từ những “chuyên gia”.

Người hỏi: Nhưng lĩnh vực này quá phức tạp đến mức chúng tôi cảm thấy cần dựa vào những người đã nghiên cứu kỹ càng, cống hiến cả đời cho sự tự ngộ và trí tuệ.

U.G.: Mọi triết lý của họ không thể nào sánh được với trí tuệ tự nhiên của chính cơ thể. Cái mà họ gọi là hoạt động tinh thần, tâm linh, cảm xúc, cảm giác – thật ra tất cả là một quá trình thống nhất. Cơ thể này rất thông minh – nó không cần đến mấy lời giảng khoa học hay tôn giáo để sinh tồn và sinh sản. Hãy gạt bỏ mọi ảo tưởng của bạn về sự sống, cái chết và tự do – và cơ thể vẫn còn nguyên vẹn, vận hành một cách hài hòa. Nó chẳng cần bạn hay tôi giúp đỡ. Bạn chẳng cần phải làm gì cả. Sau đó, bạn sẽ không bao giờ còn đặt ra mấy câu hỏi ngớ ngẩn kiểu như “có bất tử không?” hay “cái gì xảy ra sau cái chết?”. Cơ thể là bất tử.

Người hỏi: Ông đã cắt bỏ một cách không thương tiếc mọi khả năng được cứu rỗi, thậm chí cả hy vọng mờ nhạt nhất về việc thoát khỏi khổ đau. Chẳng còn gì ngoài việc tự hủy. Vậy tại sao không tự sát?

U.G.: Nếu bạn tự sát, điều đó cũng chẳng giải quyết được gì. Ngay sau khi tự sát, cơ thể bắt đầu phân hủy, trở lại thành những dạng sống khác – chẳng kết thúc được gì cả. Sự sống không có điểm bắt đầu cũng không có điểm kết thúc. Một xác chết cho lũ kiến ăn, và xác phân hủy thì thải ra những chất làm giàu cho đất – rồi tiếp tục nuôi dưỡng những dạng sống khác. Bạn không thể kết thúc sự sống của mình – điều đó là không thể. Cơ thể là bất tử và không bao giờ hỏi mấy câu ngớ ngẩn như “có sự bất tử không?” Nó biết rằng nó sẽ chấm dứt ở hình thức này, chỉ để tiếp tục ở những hình thức khác. Mọi câu hỏi về sự sống sau cái chết luôn phát sinh từ nỗi sợ hãi.

Còn các lãnh đạo tinh thần – họ không thể thành thật về những điều này, bởi vì họ sống nhờ vào nỗi sợ, vào các suy đoán về kiếp sau và sự “huyền bí” của cái chết.

Còn các bạn, những tín đồ – các bạn không thực sự quan tâm đến tương lai của nhân loại, các bạn chỉ lo cho vận mệnh tầm thường bé nhỏ của mình. Mấy cuộc trò chuyện hàng giờ về nhân loại, từ bi, v.v… chỉ là một nghi lễ. Chính CÁC BẠN mới là mối quan tâm của mình. Nếu không, đã chẳng có cái kiểu tò mò con nít về kiếp sau và cái chết sắp đến của bản thân.

Người hỏi: Nhưng đối với nhiều người trong chúng tôi, sự sống là điều thiêng liêng. Chúng tôi đấu tranh để bảo vệ con cái, môi trường, để ngăn ngừa một cuộc chiến tranh khác…

U.G.: Tất cả các bạn đều là những con người loạn thần kinh. Các bạn vừa lên án việc kiểm soát sinh đẻ, vừa thao thao bất tuyệt về sự quý giá của sự sống, rồi lại ném bom và tàn sát. Thật vô lý. Các bạn lo lắng cho những sinh linh chưa chào đời, trong khi đang giết hàng ngàn người bằng bom đạn, đói khát, nghèo đói và khủng bố. Cái gọi là “mối quan tâm” về sự sống của các bạn chỉ là để biến nó thành một vấn đề chính trị. Đó chỉ là một cuộc tranh luận học thuật. Tôi không hứng thú với chuyện đó.

Người hỏi: Vâng, nhưng nhiều người trong chúng tôi nhận thức rõ mọi điều ấy và vẫn thực lòng muốn thay đổi. Không chỉ là vì cái tôi đâu.

U.G.: Các bạn có thực sự quan tâm không? Các bạn có quan tâm đến tương lai của nhân loại không? Sự giận dữ, công lý và lòng quan tâm mà các bạn bày tỏ chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi. Đó chỉ là một nghi thức. Các bạn chỉ ngồi đó mà nói chuyện, hết lần này đến lần khác. Các bạn chẳng giận gì cả. Nếu thực sự giận vào lúc này, thì các bạn thậm chí sẽ không hỏi câu này – dù là trong đầu mình. Một người đang giận thật sự sẽ không nói về cơn giận của mình. Thân thể đã phản ứng rồi – nó hấp thụ cơn giận đó. Cơn giận ấy bị đốt cháy – chấm dứt ngay tại chỗ. Bạn không làm gì cả – thân thể tự động hấp thụ nó. Vậy thôi.

Nếu tất cả những điều tôi nói là quá sức chịu đựng đối với bạn, nếu nó khiến bạn chán nản, thì đừng đến với các bậc thánh nhân nữa. Hãy uống thuốc, làm gì cũng được – nhưng đừng mong “ngành kinh doanh tâm linh” giúp được gì cho bạn. Lãng phí thời gian.

Người hỏi: Ông khiến tôi chỉ muốn buông bỏ tất cả, từ bỏ…

U.G.: Miễn là bạn còn nghĩ rằng mình có điều gì đó để từ bỏ, thì bạn đã lạc lối rồi. Việc không nghĩ đến tiền bạc và các nhu cầu thiết yếu của đời sống là một căn bệnh. Tự chối bỏ những nhu cầu cơ bản là một sự lệch lạc. Bạn nghĩ rằng nhờ khổ hạnh tự áp đặt, bạn sẽ gia tăng sự tỉnh thức – rồi dùng sự tỉnh thức đó để được hạnh phúc. Không có cửa đâu. Bạn sẽ thực sự yên ổn khi tất cả những ý tưởng về “tỉnh thức” được gạt bỏ, và bạn bắt đầu vận hành như một cái máy. Bạn phải trở thành một cỗ máy – vận hành tự động trong thế giới này – không đặt câu hỏi trước, trong hay sau bất kỳ hành động nào xảy ra.

Người hỏi: Có phải ông đang phủ nhận tầm quan trọng của các thực hành yoga, sự từ bỏ tôn giáo, hay giá trị của đạo đức?

U.G.: Mọi giá trị đạo đức, tâm linh, đạo đức học – đều là giả. Các nhà tâm lý học, trong nỗ lực tìm một lối thoát thực tế, nay đã lâm vào đường cùng, đến mức quay sang tìm kiếm câu trả lời từ những người tu hành. Họ lạc lối rồi – và câu trả lời phải đến từ họ, chứ không phải từ mớ truyền thống đóng bụi của “ngành thánh nhân”.

Người hỏi: Điều này khiến chúng tôi cảm thấy bất lực. Không có gì lạ khi con người vẫn luôn trông cậy vào các đấng cứu thế, các vị thánh và tiên tri.

U.G.: Các “đấng cứu thế” đã không để lại gì ngoài khổ đau cho thế giới này. Nếu một “đấng cứu thế hiện đại” xuất hiện trước mặt bạn, ông ta cũng sẽ không thể giúp được gì cho bạn. Và nếu ông ta không giúp được, thì chẳng ai có thể giúp được cả.

Người hỏi: Nếu một đấng được xức dầu, một vị cứu tinh hay hiền triết, không thể giúp gì được, thì có lẽ như Kinh Thánh nói: “Hãy biết chân lý và chân lý sẽ giải thoát bạn.”

U.G.: Chân lý là một chuyển động. Bạn không thể nắm bắt nó, chứa đựng nó, diễn đạt nó, hay sử dụng nó để phục vụ lợi ích của mình. Một khi bạn nắm bắt nó, nó không còn là chân lý nữa. Chân lý đối với tôi là điều không thể – dưới bất kỳ hoàn cảnh nào – truyền đạt cho bạn. Sự chắc chắn có ở đây không thể được truyền sang người khác. Chính vì vậy mà toàn bộ cái gọi là “ngành guru” là vô nghĩa. Điều này luôn đúng, không chỉ bây giờ.

Sự tự khước của bạn chỉ để làm giàu cho các thầy tu. Bạn từ chối những nhu cầu cơ bản của bản thân, trong khi kẻ kia đi Rolls Royce, ăn như vua và được đối xử như một ông hoàng. Hắn – và tất cả những người trong ngành “thánh thiện” – sống nhờ vào sự ngu ngốc và cả tin của người khác. Giới chính trị gia cũng vậy – họ sống nhờ vào sự nhẹ dạ của con người. Ở đâu cũng thế cả.

Người hỏi: Ông luôn nhấn mạnh vào mặt phủ định, theo cách “neti neti” cổ điển. Có phải ông đang chỉ ra sự cần thiết phải buông bỏ mọi gánh nặng – kể cả kinh sách, đạo sư và uy quyền – nếu muốn đạt đến trạng thái mà ông gọi là quyền bẩm sinh tự nhiên?

U.G.: Không. Việc loại bỏ guru, đền chùa và kinh sách như một toa thuốc để đạt tự do – là điều nực cười. Bạn chỉ tìm kiếm câu trả lời như một cách để tránh đau khổ. Mọi thứ được sinh ra đều đi kèm nỗi đau. Đừng hỏi tại sao. Nó vốn như vậy. Bạn nghĩ rằng từ bỏ các đạo sư và quyền uy sẽ giúp mình chịu đựng đau khổ “một cách thiêng liêng” hơn. Nhưng sự chịu đựng không giúp bạn tiến bộ tâm linh đâu. Không có lối thoát.

Người hỏi: Nhưng tôi biết ông không phải là một người yếm thế hay hoài nghi. Ông đang chỉ ra một định mệnh khác cho con người, chứ không chỉ phê bình hoàn cảnh hiện tại – đúng không?

U.G.: Có một giải pháp cho các vấn đề của bạn – cái chết. Sự tự do mà bạn đang quan tâm chỉ có thể xuất hiện vào lúc chết. Mọi người đều đạt moksha cuối cùng – vì moksha luôn đi trước cái chết – và ai rồi cũng chết.

Người hỏi: Nhưng tôi hiểu ông không nói về cái chết theo nghĩa bóng hay thi vị. Ông không đang miêu tả một cái chết tâm lý, lãng mạn hay trừu tượng, mà là cái chết thực sự, cụ thể, thể xác – đúng không?

U.G.: Đúng. Khi bạn chết, cơ thể ở tư thế nằm, nó ngừng vận hành – và thế là hết. Nhưng trong trường hợp này, cơ thể lại tự làm mới. Việc đó nay xảy ra mỗi ngày, một cách tự nhiên – toàn bộ tiến trình ấy mất nhiều năm để ổn định. Với tôi, sống và chết là một – không phải hai thứ tách biệt. Nhưng tôi cảnh báo bạn: nếu điều mà bạn đang nhắm đến – moksha – thực sự xảy ra, thì bạn sẽ chết. Sẽ có một cái chết thể xác, vì phải có cái chết thể xác thì trạng thái đó mới xuất hiện. Nó giống như chơi trò nín thở vì thấy vui. Nhưng nếu bạn nín thở đủ lâu, bạn sẽ ngạt thở mà chết.

Người hỏi: Vậy chúng ta phải trở nên ý thức về cái chết, biến nó thành một đối tượng thiền định, tiếp cận nó theo cách lãng mạn, huyền nhiệm – đúng không?

U.G.: Mô tả trạng thái đó như một trạng thái thiền định tràn đầy nhận thức – chỉ là chuyện lãng mạn nhảm nhí. “Tỉnh thức”! Thật là một trò bịp bợm phi thường – người ta tự lừa mình và lừa người khác. Bạn không thể nào “tỉnh thức” từng bước chân – bạn sẽ chỉ trở nên ngượng nghịu và tự ý thức nếu làm thế. Tôi từng biết một người làm hoa tiêu tàu – ông ta đọc về “tỉnh thức thụ động” và thử thực hành. Kết quả là, lần đầu tiên trong đời, ông ta suýt làm đắm con tàu. Đi bộ vốn là hành vi tự động – nếu bạn cố gắng tỉnh thức mọi bước chân, bạn sẽ phát điên. Vậy nên đừng bịa ra mấy “bước thiền định” nữa. Mọi thứ đã đủ tệ rồi. “Trạng thái thiền định” còn tệ hơn.

Người hỏi: Nhưng làm sao ông có thể phủ nhận… mọi thứ mà người ta coi là thiêng liêng như vậy?

U.G.: Tất nhiên tôi có thể – tất cả chỉ là trò lãng mạn. Bất kỳ phương thuốc nào tôi đưa ra cho bạn sẽ lại trở thành một phần trong cuộc truy cầu của bạn – tức là thêm chuyện lãng mạn nữa. Đó là lý do vì sao tôi không bao giờ mệt mỏi khi nói rằng: tôi không có hàng hóa để bán – càng không có phương pháp mới hay tốt hơn để bạn tiếp tục tìm kiếm. Tôi phủ nhận hoàn toàn tính hợp lệ của cuộc truy cầu đó. Bạn sẽ không nhận được gì ở đây cả. Hãy thử vận may ở nơi khác.

Người hỏi: Nhưng chắc chắn ông cũng là con người – và muốn giúp nhân loại – dù chỉ vì lòng thương?

U.G.: Ai bầu tôi làm Đấng cứu thế? Bạn đã có đầy rẫy các vị thánh, tiên tri và cứu tinh – tất cả đều mong muốn “phục vụ” bạn. Vậy thì cần gì thêm một người nữa? Chúa Jesus từng nói: “Hãy gõ và cửa sẽ mở. Hãy đến với Ta, hỡi những ai đang gánh nặng.” Vì lý do nào đó, tôi không thể làm được điều ấy. Chúng ta đã đi rất xa rồi. Có lẽ nên tiếp tục cuộc trò chuyện này vào ngày mai.

Người hỏi: Vậy hẹn ngày mai nhé.

U.G.: Cảm ơn bạn.


Q: Từ những gì ông nói hôm qua, có vẻ như một người phải hoàn toàn tỉnh táo thì mới có thể làm điều mà ông đã làm – tức là chết. Khi dừng lại hôm qua, ông nói rằng nếu muốn khám phá tự do hay moksha, người ta phải thực sự chết. Một bước triệt để như vậy không thể được thực hiện bởi một người mộng mơ, thần kinh bất ổn. Đó là hành động của một người thoát khỏi sự mê mờ, những cơn khủng hoảng tâm lý và thương hại bản thân. Liệu có cách nào để dạy điều đó không? Người ta có thể được giáo dục để trở nên tỉnh táo không?

U.G.: Tôi không tin vào giáo dục. Bạn có thể dạy một kỹ thuật — toán học, cơ khí — nhưng không thể dạy sự chính trực. Làm sao bạn có thể dạy người ta về sự không tham lam, không ham muốn trong một xã hội điên cuồng vì tham lam và danh vọng? Bạn chỉ khiến họ trở nên thần kinh hơn mà thôi.
Nghe này: bạn là một kẻ gian trá. Những tham vọng tôn giáo của bạn chẳng khác gì của ông doanh nhân kia. Nếu bạn không thể lừa lọc thì chắc có gì đó sai sai. Bạn nghĩ ông giàu có kia có được tài sản lớn nhờ các bài giảng về vô tham và vô ngã à? Hoàn toàn không. Ông ta lừa người khác mới có được như vậy. Xã hội — vốn đã vô đạo đức — lại tuyên bố rằng lừa lọc là vô đạo đức, còn không lừa lọc là đạo đức. Tôi chẳng thấy khác biệt gì. Nếu bị bắt, bạn bị tống vào tù. Thế là bạn có cơm ăn, có chỗ ở. Vậy lo gì? Chính cảm giác tội lỗi của bạn khiến bạn nói về vô tham, trong khi bạn vẫn sống tham lam. Sự vô tham của bạn là do suy nghĩ dựng lên để khỏi phải đối diện với sự thật rằng: chỉ có tham lam ở đó mà thôi. Nhưng bạn không hài lòng với điều đang là. Nếu chẳng có gì hơn thế, bạn sẽ làm gì? Đó là tất cả những gì đang có. Bạn phải sống cùng nó. Không có đường thoát. Tư tưởng chỉ có thể lặp đi lặp lại chính nó mà thôi. Đó là tất cả những gì nó có thể làm. Và bất kỳ điều gì lặp đi lặp lại đều là dấu hiệu của sự lão suy.

Q: Thiền dường như ít lặp lại hơn, sâu sắc hơn suy nghĩ thông thường. Nhưng nó vẫn không thỏa mãn.

U.G.: Nếu thiền định, sādhanā, phương pháp và kỹ thuật của bạn có giá trị gì, thì bạn đã không đến đây hỏi tôi những câu hỏi này. Tất cả chỉ là cách để bạn tạo ra thay đổi. Tôi khẳng định rằng chẳng có gì để thay đổi hay chuyển hóa cả. Bạn mặc định có gì đó cần thay đổi như một điều đương nhiên. Bạn chưa bao giờ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “người cần thay đổi” đó. Toàn bộ thần thoại về sự giác ngộ dựa trên ý tưởng phải “chuyển hóa bản thân”. Tôi không thể truyền đạt sự chắc chắn của tôi — rằng bạn và tất cả các bậc thầy từ xưa đến nay đều sai. Họ và “hàng hóa tâm linh” mà họ rao bán là hoàn toàn giả dối. Vì tôi không thể truyền sự chắc chắn đó cho bạn, nên sẽ là vô nghĩa và giả tạo nếu tôi đứng trên bục giảng để thuyết giảng. Tôi thích trò chuyện không chính thức – chỉ đơn giản là nói, “Rất vui được gặp bạn.”

Q: Vậy thì sao ông lại nói chuyện với mọi người?

U.G.: Không có gì thú vị khi trở thành người chống đối xã hội. Tôi không mang đến cho người ta điều họ muốn. Khi họ nhận ra họ sẽ không đạt được điều họ mong ở đây, họ luôn rời đi. Và lúc họ rời đi lần cuối, tôi thường nói thêm: “Bạn sẽ chẳng tìm được điều đó ở bất kỳ đâu.”

Khi người ta đến trò chuyện, họ đối diện trực tiếp với sự tĩnh lặng. Đó là lý do vì sao ai đến đây rồi cũng im lặng. Nếu ai đó không chịu nổi sự tĩnh lặng và cứ khăng khăng muốn nói, muốn bàn luận, họ sẽ buộc phải phản đối và rời đi. Nhưng nếu bạn ở lại lâu, bạn sẽ bị tĩnh lặng đó làm câm lặng — không phải vì nó có sức thuyết phục hay lý trí hơn bạn, mà bởi vì chính nó là sự tĩnh lặng đang làm im bặt chuyển động tư tưởng bên trong bạn.

Sự tĩnh lặng đó thiêu rụi mọi thứ ở đây. Mọi trải nghiệm đều bị thiêu rụi. Đó là lý do tôi có thể nói chuyện cả ngày mà không mệt mỏi. Đó là năng lượng đối với tôi. Đó là lý do tôi có thể nói chuyện với biết bao người qua bao năm mà không bị ảnh hưởng gì. Tất cả những gì tôi hoặc họ từng nói đều bị đốt sạch nơi đây, không để lại dấu vết. Đáng tiếc, điều này không đúng với bạn.

Q: Trí tuệ có vị trí nào trong tất cả điều này không? Có vẻ như ông đang chỉ ra rằng tồn tại một loại trí tuệ bẩm sinh, không liên quan đến kiến thức hay kỹ thuật.

U.G.: Chấp nhận những giới hạn của mình chính là trí tuệ. Bạn đang cố gắng thoát khỏi những giới hạn tự nhiên ấy — và đó là nguồn gốc của khổ đau và đau đớn. Hành động của bạn luôn giới hạn hành động kế tiếp. Hành động của bạn lúc này đang giới hạn hành động kế tiếp. Hành động này là phản ứng. Câu hỏi về tự do trong hành động không hề tồn tại. Vậy nên chẳng cần đến triết lý định mệnh nào cả. Từ “karma” có nghĩa là hành động không có phản ứng. Bất kỳ hành động nào của bạn cũng đều giới hạn hành động tiếp theo.

Bất kỳ hành động nào diễn ra ở tầng ý thức suy nghĩ đều là phản ứng. Một hành động thuần khiết, tự phát, không phụ thuộc vào các hành động trước đó — điều đó là vô nghĩa. Hành động duy nhất thực sự là phản ứng tự nhiên của cơ thể sống trước các kích thích xung quanh. Quá trình kích thích–phản ứng là một hiện tượng đồng nhất. Không có sự phân chia giữa hành động và phản ứng, trừ khi tư tưởng can thiệp và phân chia chúng một cách nhân tạo. Nếu không, đó là một tiến trình tự động, đồng nhất, và bạn không thể can thiệp hay ngăn cản nó. Cũng chẳng cần phải ngăn cản.

Cũng như việc không có sự phân chia giữa hành động và phản ứng, thì cũng không có chỗ cho “người tôn giáo” trong trật tự tự nhiên của sự sống. Sự vận động mới mẻ của sự sống đe dọa nguồn gốc quyền lực và uy danh của kẻ ấy. Nhưng ông ta không muốn rút lui. Ông ta phải bị hất ra. Tôn giáo không phải là một bản khế ước — công khai hay riêng tư. Nó chẳng liên quan gì đến cấu trúc xã hội hay cách quản lý xã hội. Nhà chức trách tôn giáo muốn tiếp tục kiểm soát con người, nhưng tôn giáo đích thực là một vấn đề hoàn toàn cá nhân. Các vị thánh và các đấng cứu thế chỉ thành công trong việc để lại cho con người nỗi đau, sự bất mãn và một cảm giác bồn chồn rằng “phải có điều gì đó sâu sắc hơn” để sống vì nó.

Tồn tại — đó mới là điều quan trọng, chứ không phải “sống thế nào”. Chính chúng ta đã tạo ra cái gọi là “sống thế nào”, và điều đó lại chính là thứ gây rối loạn cho chúng ta. Suy nghĩ của bạn đã tạo ra vấn đề — nên ăn gì, mặc gì, cư xử thế nào — trong khi cơ thể thì chẳng bận tâm. Tôi chỉ đang chỉ ra sự phi lý của cuộc đối thoại này. Khi bạn hiểu ra, bạn sẽ cứ thế mà sống. Tôi không có thông điệp gì gửi đến nhân loại cả.

Chúng ta đã khởi động những lực tác động không thể đảo ngược. Chúng ta đã làm ô nhiễm bầu trời, dòng nước, mọi thứ. Tự nhiên không có khái niệm “phần thưởng” — chỉ có “trừng phạt”. Phần thưởng duy nhất là bạn sống hòa hợp với tự nhiên. Toàn bộ vấn đề khởi đầu khi con người nghĩ rằng cả vũ trụ được tạo ra chỉ để cho riêng mình tận hưởng. Chúng ta đã chồng lên tự nhiên những khái niệm về tiến hóa và tiến bộ. Tâm trí của chúng ta — và thật ra không có “tâm trí cá nhân”, chỉ có một “tâm trí” chung — chính là sự tích lũy của toàn thể tri thức và kinh nghiệm của nhân loại, và nó đã tạo ra khái niệm về tâm linh và tiến hóa. Chỉ có công nghệ là tiến bộ, còn chúng ta với tư cách một giống loài đang tiến gần đến sự hủy diệt hoàn toàn — chính bản thân ta và cả thế giới. Mọi thứ trong ý thức con người đang đẩy thế giới — mà tự nhiên đã phải mất hàng triệu năm để tạo dựng — tới bờ vực diệt vong. Không có sự thay đổi mang tính chất lượng nào trong tư duy của con người; ta cảm thấy về hàng xóm của mình y hệt như con người trong hang đá từng cảm thấy về bộ tộc bên kia. Thứ duy nhất thay đổi là khả năng của ta trong việc tiêu diệt hàng xóm — và của cải của họ.

Bạo lực là một phần không thể tách rời của tiến trình tiến hóa. Bạo lực đó là điều thiết yếu cho sự tồn tại của cơ thể sống. Bạn không thể lên án bom hydrogen, vì nó chỉ là phần mở rộng của anh cảnh sát kia và khao khát được bảo vệ của chính bạn. Vậy bạn sẽ vạch ranh giới ở đâu? Không thể. Ta không có cách nào để đảo ngược tất cả những điều này.

Q: Những người nhân đạo tin rằng con người có năng lực yêu thương, và rằng tình yêu có thể là giải pháp duy nhất để tránh khỏi sự hủy diệt lẫn nhau. Liệu có gì đúng trong đó không?

U.G.: Tình yêu và thù hận là một. Chúng cùng nhau tạo ra thảm sát, ám sát, chiến tranh và giết chóc. Đây là vấn đề của lịch sử, không phải ý kiến cá nhân của tôi. Phật giáo đã từng gây ra những sự kinh hoàng ở Nhật Bản. Ở đâu cũng vậy thôi. Tất cả các hệ thống chính trị đều bắt nguồn từ tư duy tôn giáo đó — dù là phương Đông hay phương Tây. Trước những sự thật như vậy, làm sao bạn có thể còn chút lòng tin nào vào tôn giáo? Việc khơi lại quá khứ — một quá khứ vô ích — thì có ích gì? Là vì cuộc sống hiện tại của bạn chẳng có ý nghĩa gì nên bạn mới bám víu vào quá khứ. Bạn thậm chí còn không trôi nổi — bạn không có phương hướng gì cả; bạn chỉ đang trôi lềnh bềnh. Rõ ràng cuộc sống của bạn chẳng có mục đích gì, nếu không thì bạn đã chẳng sống mãi trong quá khứ như thế.

Thứ không giúp ích được gì cho bạn thì cũng chẳng giúp ích được cho ai cả. Dù tôi có nói gì, chính bạn mới là phương tiện truyền tải. Bạn đã bắt lấy những gì tôi nói và biến nó thành một chủ nghĩa, một hệ tư tưởng mới, một con đường mới để đạt được điều gì đó. Điều tôi cố gắng nói là: bạn phải tự mình khám phá điều gì đó. Nhưng đừng ảo tưởng rằng điều bạn tìm ra sẽ giúp ích cho xã hội, hay có thể được sử dụng để thay đổi thế giới. bạn đã kết thúc với xã hội rồi — chỉ vậy thôi.

Q: Thứ mà mỗi người phải tự mình khám phá — có phải chính là Thượng đế hoặc sự giác ngộ không?

U.G.: Không. Thượng đế là khoái lạc tối thượng, là hạnh phúc không gián đoạn. Không có thứ gì như vậy tồn tại cả. Việc bạn khao khát một điều không tồn tại chính là cội rễ của vấn đề. Sự chuyển hóa, moksha, giải thoát, và tất cả những thứ tương tự chỉ là các biến thể của cùng một chủ đề: hạnh phúc vĩnh cửu. Cơ thể không thể chịu đựng nổi điều đó. Khoái cảm tình dục, chẳng hạn, vốn dĩ đã là tạm thời. Cơ thể không thể chịu đựng khoái lạc không ngừng nghỉ quá lâu – nó sẽ bị hủy hoại. Việc bạn cố áp đặt một trạng thái hạnh phúc hư cấu và bền vững lên thân thể là một vấn đề thần kinh nghiêm trọng.

Hỏi: Nhưng các tôn giáo cảnh báo chúng ta không nên chạy theo khoái lạc. Thông qua cầu nguyện, thiền định và các thực hành khác, người ta được khuyến khích vượt lên trên những khoái cảm đơn thuần…

U.G.: Họ bán cho bạn những “thuốc an thần tâm linh”, những liều morphine tinh thần. Bạn uống thuốc rồi chìm vào giấc ngủ. Ngày nay, các nhà khoa học đã tinh chế được những loại thuốc gây khoái cảm – dễ dùng hơn nhiều. Bạn chưa từng nhận ra rằng sự giác ngộ và thượng đế mà bạn đang theo đuổi thực chất chỉ là thứ khoái lạc tột cùng – và hơn nữa, đó là một khoái lạc do chính bạn tưởng tượng ra để trốn tránh trạng thái đau đớn mà bạn luôn sống trong đó. Cái trạng thái đau đớn, loạn thần kinh của bạn là kết quả của việc cùng lúc muốn hai điều mâu thuẫn nhau.

Hỏi: Nhưng bằng cách nào đó, ông đã thoát khỏi tất cả những mâu thuẫn ấy, và dù ông không hề tuyên bố rằng mình đang ở trong một trạng thái hoan lạc thường trực, ông có vẻ như vẫn hạnh phúc một cách căn cơ. Vì sao cuộc đời ông lại rẽ theo hướng đó chứ không phải hướng khác?

U.G.: Nếu tôi kể lại câu chuyện đời mình, thì cũng như đang kể về cuộc đời của một người xa lạ. Không có sự dính mắc, không có cảm xúc, không có chút nội hàm tình cảm nào khi tôi hồi tưởng về đời mình. Nếu bạn nghĩ rằng tôi đang cất giữ những ký ức riêng tư, những cảm xúc quý giá nào đó về quá khứ, thì bạn đã hiểu sai hoàn toàn.

Lần đầu tiên, có một người tách mình ra khỏi bối cảnh tôn giáo (ám chỉ Jiddu Krishnamurti – chú thích của biên tập viên), và ngay lập tức những lời dạy của ông ta đã trở nên lỗi thời, lạc hậu và sai lạc. J.K. đã chọn cách lý giải mang tính tâm lý học – và cách đó đã lỗi thời. Bạn không thể “phá hủy” J.K., nhưng cái khung tư tưởng mà ông ta tạo ra thì đã lỗi thời và vô dụng. Vấn đề không nằm ở tâm lý, mà là sinh lý.

Cơ thể này về cơ bản không hề thay đổi trong hàng trăm nghìn năm. Khuynh hướng đi theo người lãnh đạo, sợ cô đơn, khởi chiến, gia nhập nhóm… tất cả những đặc điểm đó nằm trong cấu trúc di truyền của nhân loại – là một phần trong di sản sinh học của loài người.

Hỏi: Tạm bỏ qua câu hỏi liệu một sinh thể vốn đã được lập trình về mặt di truyền để trở nên hung bạo và hiếu chiến có thể thực sự trở nên thiện lành hay không, thì các thực hành tôn giáo – thiền định, yoga, khiêm cung, v.v. – chẳng phải là những nỗ lực để giúp con người vượt qua các giới hạn sinh học ấy sao?

U.G.: Thiền định tự nó đã là một cái ác. Đó là lý do tại sao khi bạn cố thiền, mọi ý nghĩ tăm tối liền trỗi dậy. Nếu không có nó, bạn sẽ chẳng có điểm đối chiếu nào để biết một ý nghĩ là “tốt” hay “xấu”. Thiền là một cuộc chiến – nhưng bạn chỉ chuốc lấy thêm đau khổ. Tôi có thể quả quyết với bạn rằng không chỉ mục tiêu của thiền và moksha là thứ đã được văn hóa nhồi vào đầu bạn, mà rốt cuộc bạn cũng chẳng nhận được gì ngoài đau đớn. Có thể bạn sẽ trải qua vài ba thứ gọi là “trải nghiệm huyền bí nhỏ nhặt”, nhưng chúng chẳng có giá trị gì – với bạn hay với bất kỳ ai khác.

Hỏi: Nhưng chúng tôi không quan tâm đến những trải nghiệm nhỏ nhặt như thế, chúng tôi muốn tự do…

U.G.: Khác biệt gì chứ, giữa việc bạn có đạt được tự do ấy, giác ngộ ấy hay không? Bạn sẽ không còn đó để hưởng lợi từ nó. Trạng thái ấy có thể mang lại điều gì tốt đẹp cho bạn? Trạng thái ấy lấy đi MỌI THỨ bạn có. Đó là lý do tại sao người ta gọi nó là “jivanmukti” – sống trong tự do tuyệt đối. Khi đang sống, thân xác đã chết. Bằng cách nào đó, cơ thể – sau khi trải qua cái chết – vẫn được duy trì sự sống. Nó không phải là hạnh phúc cũng chẳng phải bất hạnh. Không có thứ gọi là hạnh phúc. Và đây là điều bạn không muốn – cũng không thể muốn.

Điều bạn muốn là tất cả – nhưng ở đây, bạn mất tất cả. Bạn muốn có tất cả – điều đó là không thể. Các tôn giáo đã hứa với bạn rất nhiều – những bông hồng, những khu vườn – và rồi bạn chỉ nhận được toàn gai góc.

Hỏi: Nhưng những vị thầy khác, như J. Krishnamurti chẳng hạn, lại mô tả một hành trình khám phá, rằng thông qua sự tỉnh thức và tự do truy vấn, con người có thể khám phá ra…

U.G.: Không có sự chuyển hóa nào cả – dù triệt để hay không. Cái gã hề kia (ám chỉ J.K.) đang thuyết giảng trong cái rạp xiếc đó, hắn gọi đó là hành trình khám phá. Đó là một chuyến bay thuê bao giả hiệu. Không có hành trình nào cả. Những thứ Vệ-đà cũng chẳng giúp ích gì hơn. Chúng là sản phẩm của mấy gã phê thuốc sau khi uống nước soma. J.K. còn thần kinh hơn cả những người đến nghe ông ta nói.

Hỏi: Nếu ông không đặt niềm tin vào những giáo lý tôn giáo cổ xưa, thì ông có xem ngành tâm lý học hiện đại là nghiêm túc hơn không?

U.G.: Toàn bộ lĩnh vực tâm lý học đã đánh lừa tư duy con người suốt hơn một trăm năm qua. Freud là một trò bịp vĩ đại của thế kỷ 20. J. Krishnamurti nói về một cuộc cách mạng trong tâm thức – nhưng không có cái “tâm thức” nào ở đó cả. Cái “tâm trí” cần được chuyển hóa một cách kỳ diệu ấy ở đâu? Các đệ tử của J.K. đã đến mức chỉ còn biết lặp lại những cụm từ vô nghĩa. Họ là những kẻ nông cạn và rỗng tuếch. Việc J.K. có thể thu hút đám đông chẳng nói lên điều gì – những người thôi miên rắn cũng thu hút đám đông mà. Bất kỳ ai cũng có thể kéo người đến nghe.

Hỏi: Nhưng ông đang sử dụng một phương pháp tiếp cận tương tự…

U.G.: Đúng, tôi đang sử dụng 80% từ ngữ và cụm từ của ông ta – chính những cụm từ mà ông ta đã dùng trong nhiều năm để lên án các guru, thánh nhân, và đấng cứu thế như chính ông ta. Ông ta đáng nhận lấy điều đó. Có một điều tôi chưa từng nói: rằng ông ta là người thiếu phẩm hạnh – không, ông ta là người có phẩm hạnh lớn lao. Nhưng tôi chẳng mảy may quan tâm đến những con người có phẩm hạnh. Nếu ông ta thấy được mớ hỗn độn mà ông ta đã tạo ra trong vai trò sai lạc của một “đấng cứu thế toàn cầu”, và giải tán toàn bộ nó, tôi sẽ là người đầu tiên cúi chào ông ta. Nhưng ông ta quá già và đã lú lẫn để có thể làm điều đó. Các đệ tử của ông ta bị sốc vì tôi đang cho ông ta nếm thử chính liều thuốc mà ông ta từng kê cho người khác. Đừng so sánh những điều tôi đang nói với những gì ông ta, hoặc các nhà tôn giáo khác, từng nói. Nếu bạn gán cho những gì tôi nói bất kỳ ý nghĩa tâm linh hay màu sắc tôn giáo nào, thì bạn đã lạc hướng hoàn toàn. Tất cả những điều đó cần phải được vứt bỏ.

Hỏi: Nhưng dường như với chúng tôi, J. Krishnamurti – và có lẽ một vài người khác trong lịch sử – thực sự có điều gì đó đáng nói. J. Krishnamurti dường như là đúng như những gì ông ấy tuyên bố – một con người tự do.

U.G.: Ông ta có cái gì đó. Tôi thường nói rằng ông ta ĐÃ NHÌN thấy viên đường, nhưng chưa TỪNG NẾM viên đường ấy. Việc người đó – hay tôi, hay bất kỳ ai khác – có tự do hay không, đó không phải là vấn đề của bạn; đó là khẩu hiệu của những tâm trí trốn chạy thực tại, là một trò tiêu khiển được bày ra để né tránh vấn đề thực sự – chính là sự không tự do của bạn. Bạn có thể chắc một điều: kẻ nào tuyên bố mình là người tự do – thì kẻ đó là một kẻ giả mạo. Điều bạn cần được tự do là khỏi thứ “tự do” mà ông ta – và những vị thầy khác – đã nói. Bạn phải thoát khỏi “tự do đầu tiên và cuối cùng”, và cả những tự do nằm giữa hai điều đó.

Hỏi: Nếu như ý niệm về một đời sống trong ân điển, bình an và tự do chỉ là hư cấu – được tạo ra để trốn tránh sự hời hợt phổ quát của chúng ta – thì vì sao chúng ta còn phải tiếp tục sống? Nếu không có một thực tại siêu việt, bất biến nào để con người hướng về, thì tại sao ta phải tiếp tục tồn tại? Có chăng chỉ là ăn, ngủ và thở?

U.G.: Chỉ có thế thôi. Đi đi. Nghe này, tôi chỉ nói rằng bạn phải tự mình tìm ra xem có điều gì đằng sau những khái niệm trừu tượng vô nghĩa mà họ đã nhồi vào bạn hay không. Họ nói về những “trái tim thiêng liêng”, “tâm thức vũ trụ”, “siêu linh hồn”, vân vân – tất cả những thuật ngữ thần bí, trừu tượng dùng để dụ dỗ những kẻ cả tin. Cuộc sống cần phải được mô tả bằng những thuật ngữ thuần túy vật lý và sinh lý học. Nó phải được giải huyền thoại và phi tâm lý hóa. Đừng nói về “trung tâm cao cấp” hay “luân xa”. Không phải chúng, mà là các tuyến nội tiết mới điều khiển cơ thể con người. Chính các tuyến ấy ban hành chỉ dẫn cho sự vận hành của cơ thể này. Còn trong trường hợp của bạn – bạn đã đưa vào một kẻ xâm nhập: ý nghĩ. Trong trạng thái tự nhiên, tư tưởng không kiểm soát bất cứ điều gì; nó chỉ xuất hiện tạm thời khi có thách thức, rồi lập tức lui vào hậu trường khi không còn cần đến nữa.

Hỏi: Vậy thì, bất kể chúng ta làm gì, chúng ta cũng đang vận hành một cách không tự nhiên, đúng không?

U.G.: Đó là lý do tôi chỉ ra những điều này. Hãy quên đi xã hội lý tưởng và con người lý tưởng. Hãy nhìn thẳng vào cách mà bạn đang vận hành. Đó mới là điều quan trọng. Điều đã ngăn cản cơ thể phát triển trọn vẹn sự độc nhất của nó – chính là văn hóa. Văn hóa đã đặt sai đối tượng – hình mẫu lý tưởng – trước mặt con người. Toàn bộ điều đó sinh ra từ ý thức phân ly của nhân loại. Nó chỉ mang đến cho ta bạo lực. Đó là lý do tại sao không có hai guru hay đấng cứu thế nào từng đồng ý với nhau. Mỗi người chỉ chăm chăm rao giảng thứ điên rồ của riêng mình.

Hỏi: Điều gì khiến chúng tôi bị thu hút khi nghe ông? Vì sao chúng tôi lại quan tâm đến những gì ông nói?

U.G.: Các bạn đến đây vì cùng một lý do như khi tìm đến bất kỳ ai để kiếm câu trả lời: các bạn muốn biết. Các bạn tin rằng nếu hiểu được câu chuyện của tôi, các bạn có thể lặp lại những gì đã xảy ra với tôi. Suốt đời bị tẩy não, các bạn chỉ còn biết nghĩ theo hướng mô phỏng. Các bạn nghĩ rằng bằng cách nào đó mình có thể tái hiện điều đã xảy ra với tôi – chỉ vậy thôi. Đó là động cơ khiến các bạn đến đây. Nhưng điều này không phải là một cách tiếp cận mới với những thứ gọi là tôn giáo. Nó hoàn toàn khác biệt. Nó chẳng liên quan gì đến mấy thứ lãng mạn, tâm linh, tôn giáo – không có gì cả. Nếu các bạn diễn giải những gì tôi nói theo các thuật ngữ tôn giáo, thì các bạn đã hoàn toàn bỏ lỡ điểm mấu chốt. “Tôn giáo”, “Thượng Đế”, “Linh hồn”, “Phúc lành”, “Moksha” – tất cả chỉ là những từ ngữ, những ý niệm được tạo ra để duy trì sự tiếp nối tâm lý của các bạn. Khi những suy nghĩ đó không còn, thì thứ còn lại chỉ là sự vận hành thuần khiết, hài hòa về mặt thể chất của cơ thể. Tôi có thể mô tả cách mà cơ thể này đang hoạt động vì câu hỏi của các bạn đã tạo nên thách thức ở đây. Câu hỏi của các bạn tạo điều kiện để phản ứng này xảy ra. Vậy nên, nó đang tự mô tả chính mình – nhưng đó không phải là cách nó vận hành. Cơ thể vận hành trong trạng thái không-biết. Tôi chưa từng tự hỏi bản thân rằng mình đang vận hành thế nào. Tôi không hề đặt câu hỏi về hành động của mình – trước, trong hay sau khi nó xảy ra. Một cái máy tính có bao giờ tự hỏi nó đang vận hành thế nào không?

Hỏi: Nhưng máy tính thì không có cảm xúc, không có tâm lý, không có chiều kích tâm linh. Làm sao ông có thể so sánh như thế…?

U.G.: Các bạn không thể nhét tôi vào cái khung tôn giáo đó được. Mọi nỗ lực của các bạn nhằm diễn giải những gì tôi nói theo khung tôn giáo ấy đều là bỏ lỡ toàn bộ vấn đề. Tôi không phải là một trong những người “thánh thiện” của các bạn, những kẻ nói: “Tôi đang treo lơ lửng đây, hãy cùng treo với tôi.” Tất cả những thứ đó chỉ là một dạng điên rồ.

Hỏi: Nhưng có gì là điên rồ khi muốn tìm hiểu về sự sống và cái chết chứ…?

U.G.: Cũng giống như người phụ nữ điên kia luôn miệng nói rằng mình không điên, các bạn cứ khăng khăng nói rằng có cái chết, rằng các bạn sẽ chết. Cả hai điều đó đều sai. Nếu xét như là những trạng thái của tâm trí dựa trên thực tại, thì cả hai đều vô hiệu như nhau.

Hỏi: Tôi nghĩ là tôi bắt đầu hiểu ông – ít nhất là về mặt trí tuệ…

U.G.: Có phải chuyện đùa không khi bạn nói với tôi rằng mình hiểu được những gì tôi đang nói? Bạn bảo rằng mình ít nhất đã hiểu tôi về mặt trí tuệ, như thể còn có một cách hiểu nào khác vậy. Sự hiểu biết trí tuệ của bạn – thứ mà bạn đầu tư rất nhiều – đến giờ chưa đem lại một chút kết quả nào cho bạn cả. Nhưng bạn vẫn cứ cố gắng nuôi dưỡng sự hiểu biết trí tuệ đó, trong khi biết rõ rằng nó chưa từng giúp ích được gì. ĐIỀU NÀY THẬT KỲ LẠ. Khi không còn hy vọng hay nỗ lực để hiểu nữa, thì cuộc sống trở nên có ý nghĩa. Sự sống – chính sự tồn tại của bạn – mang trong nó một phẩm chất sống động vô cùng. Tất cả những khái niệm của bạn về tình yêu, phúc lành, niềm hoan lạc vô hạn, và bình an – chỉ cản trở dòng năng lượng tự nhiên của tồn tại. Làm sao tôi có thể khiến bạn hiểu được rằng những gì tôi đang mô tả hoàn toàn không liên quan gì đến mớ giáo điều tôn giáo kia? Bạn thấy hàng trăm thi thể được chở đi trên xe tang sau khi chết, nhưng bạn lại không thể nào hình dung ra cái chết của chính mình. Điều đó là bất khả. Cái chết của chính bạn không thể được bạn trải nghiệm. Điều này thật sự rất lạ lùng. Đừng ném vào tôi tất cả những thứ rác rưởi đó. Bất kỳ thứ gì va chạm vào cái này – đều bị đốt cháy ngay lập tức – đó là bản chất của năng lượng đang hiện diện ở đây.

Những người tu hành, tâm linh – họ là những người không trung thực nhất. Tôi đang nhấn mạnh vào nền tảng mà toàn bộ tâm linh được xây dựng trên đó. Tôi nhấn mạnh điều đó. Nếu không có cái gọi là “linh hồn” hay “thần tính”, thì tất cả những lời lẽ về tâm linh đều là rỗng tuếch và vô nghĩa. Bạn không thể trở về chính mình nếu còn chưa thoát khỏi toàn bộ những thứ xoay quanh ý niệm về “cái tôi”. Để thực sự là chính mình, toàn bộ nền tảng của đời sống tâm linh – vốn là sai lạc – cần phải bị phá hủy. Điều này không có nghĩa là bạn phải trở nên cực đoan hay bạo lực, không phải đốt đền, đập tượng, phá kinh sách như mấy kẻ say rượu. Không phải như vậy. Đó là một đống lửa đang bùng cháy bên trong bạn. Mọi thứ mà nhân loại từng nghĩ và từng trải – đều phải đi. Bạo lực kinh hoàng trong thế giới hôm nay – là do các Jesus và các Đức Phật tạo ra.

Hỏi: Nhưng rõ ràng là, nỗ lực để trở nên văn minh cũng là một nỗ lực để vượt qua các quy luật của rừng già mà…

U.G.: Chính những kẻ tin vào Thượng Đế, những người rao giảng hòa bình và nói về tình yêu – chính họ là những người đã tạo ra khu rừng rậm của nhân loại. So với rừng của loài người, thì rừng tự nhiên còn đơn giản và hợp lý hơn nhiều! Trong tự nhiên, động vật không giết hại đồng loại của mình. Đó chính là vẻ đẹp của thiên nhiên. Ở điểm này, con người còn tệ hơn cả muông thú. Con người “văn minh” giết nhau vì lý tưởng và niềm tin, trong khi con vật chỉ giết để sinh tồn.

Hỏi: Con người có những lý tưởng mạnh mẽ và những niềm tin sâu sắc là vì họ kiếm tìm chân lý – điều mà các loài vật không làm.

U.G.: Không có thứ gì gọi là chân lý cả. Điều duy nhất thực sự tồn tại là cái tiền đề mà bạn “suy luận hợp lý” và gọi nó là “chân lý”.

Hỏi: Nhưng, một lần nữa, tất cả các giáo lý lớn đều nhấn mạnh đến việc tìm ra chân lý thông qua thực hành, vô ngã và xả ly.

U.G.: Tôi chỉ xả bỏ duy nhất một thứ – và đó là điều duy nhất đáng để xả bỏ – chính là cái ý niệm rằng có một điều gọi là “xả ly”. Chẳng có gì để xả bỏ cả. Những quan niệm sai lầm của các bạn về sự xả ly chỉ tạo thêm ảo tưởng mới về “chân lý”, “Thượng Đế”, vân vân.

Hỏi: Nghe chẳng hay chút nào khi nghĩ rằng chúng ta còn tệ hơn cả những loài vật khác…

U.G.: Chính vì con người tệ hơn loài vật nên mới khiến anh ta cần phải tạo ra những nan đề đạo đức – và cũng chính điều đó khiến nó trở nên khả thi. Khi con người lần đầu tiên trải nghiệm sự phân tách trong ý thức – khi anh ta trở nên tự ý thức – anh ta bắt đầu cảm thấy mình vượt trội hơn loài vật, trong khi thực ra không phải vậy. Và ngay tại đó, anh ta đã gieo mầm cho sự hủy diệt của chính mình.

Hỏi: Vậy nếu tôi hiểu đúng, ông đang nói rằng chính vì ta đã sai lầm khi chia tách sự sống thành “cái tôi” và “không phải tôi”, nên ta đã tạo ra vấn đề đạo đức trong chính mình và trong mọi mối quan hệ. Vấn đề căn bản nhất của ta chính là ở tư duy…

U.G.: Bạn không thể trải nghiệm bất kỳ điều gì ngoại trừ qua tư duy. Bạn không thể trải nghiệm ngay cả cơ thể mình nếu không có sự trợ giúp của tư duy. Các cảm nhận giác quan vẫn ở đó, nhưng chính tư duy đã gán hình dạng và định nghĩa cho cơ thể – nếu không có nó, bạn chẳng có cách nào để trải nghiệm cơ thể cả. Cơ thể không tồn tại – trừ phi như một ý niệm. Có một tư tưởng – một tư tưởng duy nhất – và mọi thứ tồn tại chỉ trong mối tương quan với tư tưởng đó. Tư tưởng đó là “tôi”. Bất kỳ điều gì bạn trải nghiệm dựa trên tư tưởng đều là ảo tưởng.

Hỏi: Nhưng ảo tưởng chỉ tồn tại vì trong ta chưa phát triển được “sự tỉnh thức” đúng không?

U.G.: Từ “tỉnh thức” (awareness) là một từ gây hiểu nhầm. “Tỉnh thức” không phải là một trạng thái tách biệt; không có hai trạng thái – một là “tỉnh thức” và một cái gì đó khác. Không có hai thứ đâu. Không phải là “bạn tỉnh thức về một điều gì đó”. “Tỉnh thức” chỉ đơn thuần là hoạt động của não bộ. Ý tưởng rằng bạn có thể sử dụng tỉnh thức để tạo ra một trạng thái tốt đẹp hơn, một sự chuyển hóa nào đó, hay Thượng Đế biết là gì, với tôi, đều là chuyện lố bịch. Tỉnh thức không thể được dùng để thay đổi bản thân bạn hay thế giới xung quanh.

Tất cả những thứ rác rưởi về ý thức và tiềm thức, tỉnh thức và bản ngã – đều là sản phẩm của tâm lý học hiện đại. Ý niệm rằng bạn có thể sử dụng “tỉnh thức” để đạt đến một nơi nào đó về mặt tâm lý – điều đó cực kỳ tai hại. Hơn một trăm năm trôi qua, chúng ta vẫn chưa thể thoát khỏi cái bãi rác tâm lý học – Freud và cả lũ bọn họ. Vậy thì, chính xác “ý thức” là gì? Bạn chỉ có ý thức, hay tỉnh thức, thông qua tư duy. Các loài vật khác cũng sử dụng tư duy – chẳng hạn như con chó nhận ra chủ của nó – nhưng chúng sử dụng một cách đơn giản. Chúng nhận ra mà không cần ngôn ngữ.

Con người đã thêm vào cấu trúc của tư duy, khiến nó phức tạp hơn rất nhiều. Tư duy không phải của riêng ai – không phải tư duy của tôi hay của bạn – mà là di sản chung. Không có cái gọi là “tâm trí của tôi” hay “tâm trí của bạn”. Chỉ có “tâm trí” – là toàn bộ những gì con người từng biết, từng cảm, từng trải – được truyền lại qua nhiều thế hệ. Chúng ta đều đang suy nghĩ và vận hành trong “trường tư tưởng” đó – cũng giống như chúng ta cùng hít thở trong một bầu khí quyển. Tư tưởng tồn tại để ta có thể vận hành và giao tiếp trong đời sống một cách tỉnh táo và thông minh.

Hỏi: Nhưng thực tế là ta cảm thấy có một “người suy nghĩ” đang nghĩ những ý nghĩ này, như thể có một “hồn ma trong cỗ máy” – rằng tư duy là thứ vượt hơn phản xạ máy móc của ký ức.

U.G.: Kiến thức – đó là tất cả những gì có ở đó. Cái gọi là “tôi”, “tâm trí”, “linh hồn”, “ngã”, hay bạn muốn gọi gì đi nữa – tất cả chỉ là tổng thể của tri thức được di truyền lại qua các thế hệ, chủ yếu là qua giáo dục. Bạn dạy một đứa trẻ phân biệt màu sắc, biết đọc, học cách bắt chước hành vi. Điều này phụ thuộc vào từng nền văn hóa: người Mỹ học cách cư xử kiểu Mỹ, người Ấn học cách cư xử kiểu Ấn… Những cử chỉ của cơ thể, của tay hoặc mặt chính là ngôn ngữ đầu tiên. Sau đó mới thêm vào lời nói. Cho đến nay ta vẫn dùng cử chỉ để bổ sung cho lời nói – vì ta cảm thấy lời nói đơn thuần là chưa đủ để truyền đạt trọn vẹn.

Nói vậy không có nghĩa là ta thật sự hiểu được gì về tư tưởng. Ta không thể. Bạn chỉ trở nên ý thức về tư tưởng khi biến nó thành đối tượng của tư tưởng – nếu không thì bạn còn chẳng biết mình đang nghĩ. Ta chỉ sử dụng tư tưởng để hiểu một điều gì đó ở ngoài kia, để nhớ lại điều gì đó, hoặc để đạt được một điều gì đó. Nếu không, ta còn chẳng biết liệu tư tưởng có đang hiện diện hay không. Tư tưởng không tách rời khỏi chính chuyển động của tư tưởng. Tư tưởng hành động. Không có nó, bạn không thể hành động. Không hề có thứ gì gọi là hành động thuần khiết, hành động bộc phát, hay hành động không có tư tưởng. Hành động chính là tư duy.

Bạn có một cơ chế tự-khởi động, tự-duy trì – tôi gọi nó là “cái tôi”. Nhưng điều đó không có nghĩa là thực sự có một thực thể tồn tại ở đó. Tôi không muốn – và cũng không có ý – gán cái nghĩa như vậy cho từ đó. Cái bản ngã hay cái tôi mà bạn nói – nó ở đâu? Cái “tôi” không tồn tại đó đã từng nghe nói đâu đó về tâm linh và sự phúc lạc. Và để trải nghiệm cái gọi là phúc lạc đó, bạn nghĩ rằng mình phải kiểm soát tư tưởng. Điều đó là bất khả. Nếu bạn cố gắng làm điều đó, bạn sẽ bị đốt cháy và chết.

Hỏi: Nhiều triết gia thường nói về một “hiện tại tuyệt đối”, độc lập với quá khứ và tương lai. Có tồn tại điều gì gọi là “hiện tại vĩnh cửu” không?

U.G.: Cái được gọi là “hiện tại” của bạn chính là sự khao khát trải nghiệm thêm nữa – và khao khát ấy sinh ra từ quá khứ. Nhìn đi. Trước mặt bạn là một cái micro. Bạn đang nhìn nó. Liệu bạn có thể nhìn mà không gán cho nó cái từ “micro” không? Công cụ mà bạn đang dùng để nhìn và trải nghiệm cái micro ấy chính là quá khứ – là cái quá khứ của bạn. Nếu điều này được thấy rõ, thì sẽ chẳng còn tương lai gì hết. Bất cứ thành tựu nào bạn quan tâm đều nằm ở tương lai. Và cách duy nhất để tương lai có thể vận hành chính là thông qua khoảnh khắc hiện tại.

Nhưng rất tiếc, trong khoảnh khắc hiện tại, cái đang vận hành lại chính là quá khứ. Quá khứ của bạn đang tạo ra tương lai của bạn: trước đây bạn từng hạnh phúc hay bất hạnh, khờ dại hay khôn ngoan, thì trong tương lai bạn sẽ trở thành điều ngược lại. Vậy nên, tương lai chẳng thể khác gì quá khứ cả.

Khi quá khứ không còn vận hành nữa, thì cũng chẳng có cái gọi là “hiện tại”, bởi điều bạn đang gọi là “hiện tại” thực ra chỉ là quá khứ đang lặp lại chính nó. Trong trạng thái thực sự của “ngay đây và bây giờ”, không có sự vận hành của quá khứ – và vì thế, cũng chẳng có tương lai. Tôi không biết bạn có đang theo kịp tôi không.

Cách duy nhất để quá khứ tồn tại và tiếp diễn là thông qua khao khát không ngừng được trải nghiệm lại cùng một điều – lặp đi lặp lại. Đó là lý do tại sao cuộc sống trở nên nhàm chán. Cuộc sống trở nên buồn tẻ bởi vì ta đã biến nó thành một điều lặp lại. Thế nên cái mà ta lầm tưởng là “hiện tại” thực ra chỉ là quá khứ lặp lại, chiếu ra một tương lai hư cấu. Mục tiêu của bạn, sự kiếm tìm của bạn, khát vọng của bạn – tất cả đều được đúc khuôn từ đó.

Hỏi: Một vấn đề trong việc hiểu quá khứ là vì nó phù du. Nếu đúng như ông nói là không có linh hồn hay các cõi cao hơn, thì tâm trí – hay cái gọi là “ngã” – phải nằm ở đâu đó chứ? Nếu tôi có thể nói như vậy: Quá khứ nằm ở đâu?

U.G.: Từ tri thức của bạn, từ quá khứ, bạn đặt ra câu hỏi – và động cơ thật sự đằng sau việc hỏi ấy chỉ là để thu thập thêm kiến thức từ người khác, nhằm tiếp tục duy trì cấu trúc tri thức của bạn. Bạn thật ra chẳng hề quan tâm đến chuyện này đâu. Nếu tri thức của bạn chấm dứt, điều đó cũng đồng nghĩa với việc bạn chấm dứt. Bạn hỏi “tri thức ấy ở đâu, quá khứ ấy ở đâu?” Nó có ở trong não không? Nó ở đâu? Nó nằm khắp cơ thể bạn. Nó ở trong từng tế bào của bạn.

Tất cả những câu hỏi này đều bắt nguồn từ sự kiếm tìm của bạn. Không quan trọng bạn đang kiếm tìm điều gì – Thượng Đế, một người phụ nữ hay người đàn ông đẹp, một chiếc xe mới – tất cả đều là một sự kiếm tìm như nhau. Và cơn đói ấy sẽ không bao giờ được thỏa mãn. Cơn khát ấy phải tự thiêu đốt chính nó – mà không cần được giải tỏa. Nó phải tự cháy trụi đi – mà không hề được dập tắt. Đến một lúc nào đó, bạn sẽ nhận ra rằng: “À, đây không phải là con đường” – và thế là kết thúc.

Điều tôi đang nhấn mạnh là: chúng ta đang cố giải quyết những vấn đề căn bản của con người thông qua lăng kính tâm lý học – trong khi thực ra, vấn đề lại nằm ở thần kinh học. Cơ thể mới là thứ có liên quan. Lấy ví dụ về dục vọng. Miễn là còn một cơ thể sống, thì còn dục vọng – đó là điều tự nhiên. Nhưng tư duy đã can thiệp, cố gắng kìm nén, kiểm soát, đạo đức hóa dục vọng – và điều đó gây hại cho nhân loại. Chúng ta đang cố giải quyết “vấn đề dục vọng” bằng tư tưởng. Nhưng chính tư tưởng mới là thứ tạo ra vấn đề.

Bạn vẫn tiếp tục hy vọng và tin tưởng rằng công cụ ấy có thể giải quyết được những vấn đề khác. Bạn vẫn bám víu vào hy vọng rằng tư duy sẽ đưa bạn vượt qua – nhưng bạn sẽ chết trong hy vọng, y như cách bạn đã sống trong hy vọng. Đó chính là điệp khúc trong “bản thánh ca tận diệt” của tôi.

Hỏi: Mọi tôn giáo đều đặt khát vọng tự do, thiên đường, giải thoát hay Thượng Đế lên trên hết, như một điều đáng để theo đuổi nhất. Nhưng nếu những mục tiêu tối thượng ấy không hề tồn tại – như ông dường như đang nói – thì chúng là những khao khát thấp kém, bởi chúng là hư dối, và vì thế, không thể nào được thỏa mãn. Nhưng điều đó khiến chúng ta phản kháng – vì ta khăng khăng rằng có những khao khát, nhất là những thứ vượt khỏi “xác thịt”, thì cao quý hơn những cái còn lại. Ông có thể bình luận gì về điều này?

U.G.: Trừ khi bạn được tự do khỏi khát khao của mọi khát khao – moksha, giải thoát, hay sự tự ngộ – thì bạn sẽ còn khổ đau. Cái đích tối hậu – mà xã hội đã đặt ra trước bạn – chính là cái cần phải bị dẹp bỏ. Cho đến khi bạn thoát khỏi mong muốn đó, thì bạn không thể thoát khỏi bất kỳ khổ đau nào của mình. Việc đè nén những khát vọng khác sẽ không khiến bạn tự do. Thấy được điều này là mấu chốt, bởi nó chạm vào cốt lõi của vấn đề.

Chính xã hội đã gieo vào đầu bạn mong muốn về tự do, mong muốn giải thoát, mong muốn Thượng Đế, mong muốn moksha – và chính khát khao đó bạn phải thoát khỏi. Rồi khi ấy, mọi khát vọng khác sẽ trở về với nhịp điệu tự nhiên của nó. Bạn chỉ đè nén những ham muốn kia vì sợ bị xã hội trừng phạt nếu bạn hành động theo nó, hoặc vì bạn thấy nó là chướng ngại cho mong muốn chính của bạn – là tự do.

Nếu điều này xảy ra với bạn, bạn sẽ thấy mình rơi vào trạng thái nguyên sơ, không phải kiểu hoang dại thô lậu, mà là không có chút chủ ý nào từ phía bạn – nó chỉ xảy ra thôi.

Một con người tự do như vậy không còn mâu thuẫn với xã hội nữa. Anh ta không chống đối xã hội, không gây chiến với thế giới; anh ta thấy rằng thế giới không thể khác đi. Anh ta không còn muốn thay đổi xã hội, vì đòi hỏi thay đổi đã chấm dứt. Bất kỳ hành động nào theo một hướng nào đó đều là bạo lực. Bất kỳ nỗ lực nào cũng là bạo lực. Bất kỳ điều gì bạn làm với tư tưởng để tạo ra một trạng thái tâm thức an bình, thì đều là sự cưỡng ép, và do đó là bạo lực. Cách tiếp cận đó vô lý. Bạn đang cố ép buộc sự bình an bằng bạo lực. Yoga, thiền định, tụng kinh, niệm chú – tất cả đều là kỹ thuật bạo lực.

Cơ thể sống này vốn vô cùng bình an; bạn không cần phải làm gì cả. Cơ thể hoạt động một cách hòa hợp vốn không quan tâm gì đến các trạng thái phê ngất, hoan hỉ hay phúc lạc của bạn.

Con người đã bỏ rơi trí tuệ tự nhiên của thân thể. Đó là lý do vì sao tôi nói – đó là “bài ca tận diệt” của tôi – rằng ngày mà con người trải nghiệm ý thức khiến anh ta thấy mình tách biệt và vượt trội hơn những loài vật khác, thì chính lúc đó, anh ta đã gieo mầm cho sự hủy diệt của chính mình.

Cái nhìn lệch lạc về cuộc sống đó đang từng bước đẩy toàn bộ tư tưởng nhân loại đến bờ diệt vong. Không có gì bạn có thể làm để ngăn nó lại.

Tôi không phải người gieo hoảng loạn, tôi không sợ hãi, tôi không hứng thú với chuyện cứu thế giới. Nhân loại đã được định sẵn là tiêu vong rồi.

Tất cả những gì tôi đang nói là: sự bình an mà bạn tìm kiếm đã ở sẵn trong bạn rồi – trong sự vận hành hài hòa của cơ thể.

Hỏi: Nghe ngày càng giống như câu chuyện đùa về Đức Phật nói rằng: “Đừng làm gì cả, hãy đứng yên đó.” Không hành động theo bất kỳ hướng nào, ở bất kỳ cấp độ nào, thì thật sự đâu có dễ.

U.G.: Bất kỳ điều gì bạn làm để giải thoát bản thân khỏi bất kỳ điều gì, vì bất kỳ lý do gì, đều đang hủy hoại sự nhạy cảm, sự rõ ràng, và tự do vốn đã có sẵn ở đó.

Hỏi: Nếu có thể thấy mọi thứ như chúng thật sự là…

U.G.: Không có chuyện bạn có thể thấy mọi thứ như chúng là. Bạn không bao giờ để bất kỳ trải nghiệm hay cảm xúc nào được yên. Bạn luôn phải nắm bắt và diễn giải cảm xúc đó trong khuôn khổ của cái đã biết. Bạn vui hay buồn chỉ bởi vì bạn có kiến thức và kinh nghiệm về vui và buồn. Nên mọi thứ phải được đưa vào khuôn khổ của cái đã biết, trước khi bạn có thể trải nghiệm nó.

Chuyển động của cái đã biết đang tích lũy động lượng trong bạn. Mục đích duy nhất của nó là để tiếp tục tồn tại. Không có thực thể nào ở đó, không có cái tôi nào để tự duy trì nó – chỉ là chuyển động tự duy trì của tư tưởng. Nó cơ học. Bất kỳ điều gì bạn cố làm về nó, chỉ càng khiến nó mạnh hơn.

Hỏi: Các bậc thầy phương Đông thường nói rằng ham muốn là điều xấu, rằng nó phải được siêu vượt…

U.G.: Chính cái ham muốn đạt được một mục tiêu nào đó – cái mục tiêu quan trọng nhất – mới là cái cần phải bị loại bỏ, chứ không phải những ham muốn nhỏ nhặt khác. Lý do duy nhất khiến bạn cố kiểm soát hay điều chỉnh những ham muốn nhỏ, là bởi vì việc kiểm soát đó là một phần trong chiến lược của bạn để đạt đến cái mục tiêu tối thượng – cái ham muốn của mọi ham muốn.

Loại bỏ mục tiêu chính đó đi, thì các ham muốn còn lại sẽ tự tìm được nhịp điệu tự nhiên, và không còn gây rắc rối gì cho bạn hay thế giới. Bạn sẽ không đi đến đâu nếu cứ mãi cố gắng kiểm soát, điều chỉnh những ham muốn kia. Đó là một vòng lẩn quẩn, độc hại.

Hỏi: Vậy có bất kỳ mục tiêu cao hơn nào không?

U.G.: Cái gọi là “mục tiêu cao nhất” cũng giống như đường chân trời vậy. Càng đi tới gần nó, nó càng lùi xa. Cái “mục tiêu” ấy, cũng như đường chân trời, chẳng thực sự tồn tại. Đó chỉ là sự phóng chiếu của nỗi sợ trong bạn – và nó sẽ luôn chạy xa khỏi bạn mỗi khi bạn cố theo đuổi nó. Làm sao bạn bắt kịp được?

Không có gì bạn có thể làm cả. Nhưng dẫu vậy, chính ham muốn là thứ khiến bạn cứ mãi di chuyển – bất kể bạn đi về hướng nào, thì cũng như nhau cả thôi.

Hỏi: Ông nói rằng tôi đang sống trong ảo tưởng. Nhưng nghèo đói, công việc, chiến tranh – đó không phải là ảo tưởng. Vậy tôi đang bị đánh lừa theo nghĩa nào?

U.G.: Những gì bạn trải nghiệm qua ý thức chia tách của mình là ảo tưởng. Tôi không nói rằng bom đạn là ảo ảnh – chúng không phải. Nhưng trải nghiệm của bạn về bom đạn mới là ảo tưởng. Thực tại của thế giới mà bạn đang trải nghiệm bây giờ là một ảo tưởng. Đó là tất cả những gì tôi đang cố nói.


Hỏi: Nếu ông nói rằng thế giới quan chủ quan, tương đối của tôi là thiên lệch và vì vậy là ảo tưởng – tôi sẵn sàng đồng ý. Nhưng ông cũng bác bỏ mọi thước đo khách quan bên ngoài về thực tại tuyệt đối – đúng không?

U.G.: Không hề có thứ gì gọi là “tuyệt đối”. Chính tư tưởng – và chỉ tư tưởng – đã tạo ra “tuyệt đối”. “Nhiệt độ tuyệt đối bằng 0”, “quyền lực tuyệt đối”, “sự hoàn hảo tuyệt đối” – đều là những thứ do con người bịa ra. Các “vị thánh” và những “chuyên gia” tự lừa mình và lừa người khác.

Suốt bao thế kỷ, các vị thánh, đấng cứu thế, và các nhà tiên tri của nhân loại đã lừa dối chính mình và tất cả những ai tin theo. Sự hoàn hảo và cái gọi là tuyệt đối là những điều giả tạo. Bạn đang cố bắt chước và điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực tuyệt đối đó, và điều đó đang làm bạn trở nên sai lệch.

Thực ra bạn đang hành xử hoàn toàn khác – bạn tàn nhẫn, nhưng bạn lại cảm thấy mình phải hiền lành. Đó là sự mâu thuẫn – chỉ vậy thôi, đó là điều tôi đang chỉ ra.


Hỏi: Chúng tôi ngạc nhiên về sự quyết liệt của ông khi phủ nhận toàn bộ các bậc thầy tâm linh và các triết gia…

U.G.: Sự chắc chắn đã lóe lên trong tôi là thứ không thể truyền đạt được. Điều đó không có nghĩa là tôi vượt trội, là người được chọn, hay là hiện thân của mọi đức hạnh – hoàn toàn không phải. Tôi chỉ là một con người bình thường, và chẳng có gì liên quan đến điều đó cả.

Sự chắc chắn đó phá hủy tất cả – bao gồm cả những lời tuyên bố của các bậc giác ngộ đang bày hàng ngoài chợ.


Hỏi: Nếu các vị thánh và đấng cứu thế đã sai về vị trí thích đáng của con người trong vũ trụ, thì ít nhất họ cũng có phần đúng khi hướng tới một sự thống nhất cao hơn – gọi là Thượng Đế nếu muốn?

U.G.: Điều tôi đang cố truyền đạt là: không hề có thứ gì gọi là Thượng Đế. Chính tâm trí đã tạo ra Thượng Đế từ nỗi sợ hãi. Nỗi sợ ấy được truyền từ đời này sang đời khác. Thứ thực sự tồn tại là nỗi sợ, không phải Thượng Đế.

Nếu bạn may mắn đến mức thoát khỏi nỗi sợ, thì Thượng Đế cũng không còn. Không có thực tại tối hậu, không có Thượng Đế – chẳng có gì cả. Chính nỗi sợ mới là vấn đề, không phải “Thượng Đế”.

Bạn thấy đó, bạn yêu nỗi sợ. Sự kết thúc của nỗi sợ chính là cái chết, và bạn không hề muốn điều đó xảy ra. Tôi không đang nói đến việc xóa bỏ các chứng ám ảnh (phobia) của cơ thể – chúng là cần thiết cho sự sinh tồn. Cái chết của nỗi sợ mới là cái chết đích thực.


Hỏi: Cho đến khi nào chúng ta đủ can đảm để chết đi cùng với nỗi sợ của mình, chúng ta sẽ tiếp tục…

U.G.: …hy vọng, cầu nguyện, và thực hành đức hạnh. Kẻ thực hành đức hạnh là kẻ đầy tội lỗi. Chỉ một kẻ như vậy, một kẻ đầy dục vọng, mới đi thực hành đức hạnh.

Không hề có người đức hạnh trên đời này. Tất cả con người sẽ chỉ trở nên đạo đức vào NGÀY MAI, còn hiện tại, họ vẫn là kẻ tội lỗi. Đức hạnh của bạn chỉ tồn tại trong một tương lai hư cấu. Đức hạnh mà bạn nói đến đang ở đâu? Không ích gì khi hy vọng trở thành người tốt trong một kiếp sau; không có gì đảm bảo rằng sẽ có kiếp sau, chứ đừng nói đến việc bạn sẽ được tự do trong đó.


Hỏi: Tôi nghĩ rằng tôi bắt đầu hiểu…

U.G.: Bạn mù lòa. Bạn chẳng thấy gì cả. Khi bạn thực sự nhìn thấy, lần đầu tiên trong đời, rằng không có cái “ta” nào để đạt tới, không có linh hồn nào để thanh lọc, không có bản thể nào để giải thoát, thì nó sẽ như một cú sốc khủng khiếp giáng vào toàn bộ cơ chế trong bạn.

Bạn đã đặt cược tất cả vào điều đó – linh hồn, tâm trí, bản ngã, hay bất kỳ cái tên nào bạn gọi nó – và đột nhiên, nó bị đánh sập như một huyền thoại. Thật khó để bạn nhìn thẳng vào thực tại, vào hoàn cảnh thật sự của chính mình.

Chỉ cần một cái nhìn – là đủ. Bạn tiêu đời.


Hỏi: Việc gọi tinh thần, linh hồn, và Thượng Đế là những phát minh rẻ tiền của những tâm trí sợ hãi – điều đó có phần cực đoan, thậm chí nguy hiểm – có đúng không?

U.G.: Tôi không quan tâm. Tôi sẵn sàng ra đi bất cứ lúc nào. Tôi không thấy gì ngoài hoạt động vật lý của cơ thể. Tâm linh là phát minh của tâm trí, và tâm trí là một HUYỄN TƯỞNG.

Truyền thống của bạn đang siết cổ bạn. Nhưng đáng buồn là bạn không làm gì cả. Thật ra, bạn yêu việc bị siết cổ. Bạn yêu cái gánh nặng của bao rác rưởi văn hóa — đống rác chết của quá khứ. Nó phải rơi rụng một cách tự nhiên. Nó chỉ rụng thôi. Bạn không còn phụ thuộc vào tri thức nữa, ngoại trừ việc dùng nó như một công cụ để tồn tại một cách tỉnh táo trong thế giới này.

Mọi sự muốn đều phải chấm dứt. Muốn được tự do khỏi một thứ không hề tồn tại — đó chính là điều bạn gọi là “đau khổ”. Muốn thoát khỏi đau khổ là đau khổ. Không có nỗi khổ nào khác.

Bạn không thực sự muốn được tự do khỏi đau khổ. Bạn chỉ nghĩ về nó, mà không hề hành động. Cái việc bạn nghĩ mãi về chuyện được tự do khỏi đau khổ chỉ là thêm nguyên liệu cho khổ đau. Suy nghĩ không thể nào chấm dứt được đau khổ.

Đau khổ vẫn còn đó chừng nào bạn còn nghĩ. Thực ra không có cái gọi là khổ đau nào để mà thoát khỏi. Việc nghĩ về và vật lộn chống lại cái gọi là “đau khổ” — chính là đau khổ.

Mà bạn không thể ngừng suy nghĩ, và suy nghĩ là đau khổ, nên bạn sẽ luôn đau khổ.

Không có đường ra. Không có lối thoát.

0 0 Đánh giá
Đánh giá bài viết

Các bài viết khác

guest

0 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Được bình chọn nhiều nhất