Hỏi: Hôm trước tôi đọc sách của ông, U.G., và tôi phải thú nhận rằng cảm giác cuối cùng tôi nhận được là tất cả lập luận của ông rốt cuộc không dẫn tới hy vọng, mà là sự tất yếu của khổ đau và tuyệt vọng của con người. Tôi nghĩ vậy có đúng không?
U.G.: Về cơ bản thì tôi không thấy có tương lai nào cho con người cả. Không phải tôi là kẻ gieo họa, mà bởi vì bất cứ thứ gì sinh ra từ sự chia rẽ trong con người cuối cùng đều sẽ hủy diệt bạn ta và đồng loại. Nên tôi không mơ mộng hay hy vọng về một thế giới hòa bình.
Hỏi: Đó có phải là vì bạo lực là điều không thể tránh?
U.G.: Bởi vì chiến tranh là điều không tránh khỏi nằm trong chính bạn. Những cuộc chiến ngoài kia chỉ là sự nối dài của những gì đang diễn ra trong bạn mọi lúc. Tại sao trong bạn lại có chiến tranh? Bởi vì bạn đi tìm hòa bình. Cái công cụ mà bạn đang dùng để cố gắng đạt đến sự bình yên chính là chiến tranh.
Trong con người đã có sẵn hòa bình rồi. Bạn không cần phải tìm kiếm. Cơ thể sống đang vận hành theo một cách vô cùng bình yên. Việc con người đi tìm chân lý xuất phát từ cùng một khát vọng hòa bình ấy. Nhưng anh ta chỉ kết thúc bằng việc làm xáo trộn và hủy hoại sự bình yên vốn đã có sẵn trong cơ thể. Thế là cuối cùng ta chỉ còn lại chiến tranh trong con người, và chiến tranh ngoài xã hội. Chúng chỉ là một sự kéo dài của cùng một quá trình.
Việc con người đi tìm hòa bình trong thế giới này, khi nó dựa trên nền tảng của chiến tranh, sẽ chỉ dẫn tới chiến tranh, và tới sự diệt vong của loài người.
Hỏi: Nhiều triết lý, kể cả chủ nghĩa Marx, đều nói rằng chiến tranh và đấu tranh là điều tất yếu.
U.G.: Đúng vậy, chúng là điều tất yếu. Những người Marxist và những người khác đưa ra một giả thuyết, rồi thông qua đấu tranh, nó trở thành phản đề, rồi cứ thế tiếp diễn. Đó chỉ là những phát minh triết học nhằm gán cho cuộc sống một sự mạch lạc và phương hướng nào đó. Còn tôi thì cho rằng cuộc sống có thể đã bắt đầu một cách ngẫu nhiên, hoặc bị gán ghép lại một cách tình cờ. Những nỗ lực của con người để định hướng cho cuộc sống chỉ có thể dẫn đến thất vọng, bởi vì cuộc sống không có phương hướng gì cả.
Nhưng điều đó không có nghĩa là tên lửa đang bay đến, hay tận thế đã kề cận. Bản năng sinh tồn của con người rất sâu sắc. Điều tôi muốn nói là: tất cả những lời hay ý đẹp về hòa bình, từ bi và tình yêu chưa từng chạm đến con người. Tất cả chỉ là rác rưởi.
Cái giữ con người gắn kết với nhau là nỗi sợ. Nỗi sợ tuyệt chủng lẫn nhau đã tác động mạnh mẽ đến con người từ xa xưa. Dù vậy, điều đó cũng chẳng phải là đảm bảo gì cả. Tôi không biết.
Hỏi: Giờ thì vấn đề còn trở nên nghiêm trọng hơn khi mà công nghệ của chúng ta có thể đảm bảo sự tuyệt diệt của toàn bộ sự sống, không chỉ riêng loài người, nếu chiến tranh bùng nổ ở cấp độ cao.
U.G.: Ngày mà con người cảm thấy có ý thức về bản thân – cái ý thức khiến anh ta thấy mình vượt trội hơn mọi loài khác trên hành tinh – chính là ngày anh ta bắt đầu đi trên con đường dẫn tới sự hủy diệt hoàn toàn và toàn diện. Nếu con người bị hủy diệt, có lẽ cũng chẳng mất mát gì. Đáng tiếc là những công cụ hủy diệt mà anh ta đã tích lũy qua thời gian ngày càng trở nên tồi tệ và nguy hiểm hơn. Khi anh ta ra đi, anh ta sẽ kéo theo tất cả mọi thứ.
Hỏi: Vậy cái thôi thúc căn bản khiến con người muốn làm chủ bản thân và thế giới xuất phát từ đâu?
U.G.: Nguồn gốc của nó nằm ở ý tưởng tôn giáo cho rằng con người là trung tâm của vũ trụ. Ví dụ như người Do Thái và Kitô giáo tin rằng mọi thứ được tạo ra là để phục vụ con người. Chính vì vậy mà con người không còn là một phần của tự nhiên nữa. Anh ta đã làm ô nhiễm, phá hủy và giết chết mọi thứ – tất cả chỉ vì mong muốn được làm trung tâm của vũ trụ, của mọi tạo vật.
Hỏi: Nhưng con người chắc chắn phải thuộc về một nơi nào đó chứ, dù không phải là trung tâm của tạo hóa. Sự sa ngã là khởi đầu chứ không phải kết thúc của con người.
U.G.: Học thuyết về sự Sa Ngã chỉ là cái cớ tiện lợi cho người Kitô giáo, thế thôi; nó chẳng có nghĩa lý gì cả. Toàn bộ truyền thống Kitô giáo khai thác ý tưởng về Tội Tổ Tông đến tận cùng, dẫn đến thảm sát, đổ máu và những bạo lực khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi.
Hỏi: Nhưng triết lý phương Đông thì nói về một “trung tâm tĩnh lặng” có thể tìm thấy thông qua thiền định…
U.G.: Tôi đặt câu hỏi với chính sự tồn tại – với ý tưởng về cái tôi, cái tâm trí hay linh hồn. Nếu bạn chấp nhận ý niệm về cái tôi (và nó chỉ là một ý niệm), thì bạn có thể theo đuổi và đạt được “tự tri”. Nhưng chúng ta chẳng bao giờ chất vấn chính cái ý tưởng về cái tôi, đúng không?
Hỏi: Vậy cái tôi mà ông đang nói đến là gì?
U.G.: Bạn mới là người quan tâm đến cái tôi, chứ không phải tôi. Dù nó là gì đi nữa, thì nó vẫn là thứ quan trọng nhất đối với con người chừng nào bạn ta còn sống.
Hỏi: Tôi tồn tại, vậy nên tôi là. Ý ông là vậy à? Descartes?
U.G.: Bạn chưa bao giờ đặt câu hỏi với điều cơ bản được giả định ở đây. Đó là: “Tôi suy nghĩ, vậy nên tôi tồn tại.” Nếu bạn không suy nghĩ, bạn sẽ không bao giờ nhận ra rằng bạn đang sống hay đã chết. Vì chúng ta luôn luôn suy nghĩ, nên chính sự ra đời của tư tưởng đã tạo ra nỗi sợ, và chính từ nỗi sợ đó mà mọi trải nghiệm được sinh ra. Cả thế giới “bên trong” và “bên ngoài” đều bắt nguồn từ một điểm là tư tưởng. Mọi điều bạn trải nghiệm đều sinh ra từ tư tưởng. Vậy nên, mọi điều bạn từng hoặc có thể trải nghiệm, đều là ảo tưởng.
Sự đắm chìm trong tư tưởng tạo ra một cái tôi đầy vị kỷ trong con người – đó là tất cả những gì tồn tại. Mọi mối quan hệ dựa trên nền tảng đó tất yếu sẽ dẫn đến khổ đau. Đó đều là những mối quan hệ giả. Với bạn, chẳng có cái gọi là quan hệ thật sự. Ấy vậy mà xã hội lại đòi hỏi không chỉ là quan hệ, mà còn là các quan hệ lâu dài, vĩnh viễn.
Hỏi: Vậy ông có coi mình là một người theo Chủ nghĩa Hiện sinh không?
U.G.: Không. Đừng nghĩ rằng bạn có thể gán nhãn cho tôi. Những người theo Chủ nghĩa Hiện sinh nói về tuyệt vọng và phi lý. Nhưng họ chưa bao giờ thật sự đối mặt với tuyệt vọng hay sự phi lý ấy. Với họ, tuyệt vọng chỉ là một khái niệm trừu tượng.
Hỏi: Nhưng còn cảm giác bất an? Sự đắm chìm? Buồn nôn? Vậy Raskalnikov đã cảm thấy gì nếu không phải là tuyệt vọng?
U.G.: Đây đều là những khái niệm trừu tượng, dựa trên đó họ đã dựng nên cả một hệ thống triết học đồ sộ. Chỉ có vậy thôi. Khi bạn nói đến hoạt động vị kỷ (self-centered activity), điều bạn ám chỉ là một cơ chế tự động, tự duy trì, hoàn toàn khác với những điều mà họ đang suy đoán.
Hỏi: Ông có ý là cái tôi sẽ sống sót sau cái chết?
U.G.: Không. Ở đó không có khái niệm cái tôi, thì làm sao có thể nói đến sự bất tử hay cái gì vượt khỏi đời sống được?
Hỏi: Cái gì vượt khỏi? Có cái gì vượt khỏi không?
U.G.: Chính cái chết đã tạo ra khái niệm bất tử. Chính cái đã biết tạo ra cái chưa biết. Chính thời gian đã tạo ra cái phi thời gian. Chính tư tưởng tạo ra cái vô niệm.
Hỏi: Tại sao?
U.G.: Bởi vì bản chất của tư tưởng vốn ngắn ngủi. Mỗi khi một ý nghĩ sinh ra, là bạn được sinh ra cùng nó. Nhưng bạn lại luôn muốn lặp lại trải nghiệm đó, hết lần này đến lần khác, và điều đó tạo ra một sự liên tục giả tạo cho tư tưởng. Để trải nghiệm bất kỳ điều gì, bạn cần đến kiến thức. Kiến thức chính là toàn bộ di sản của tư tưởng, cảm xúc và kinh nghiệm của con người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Giống như chúng ta cùng hít thở chung một bầu không khí, chúng ta cũng sử dụng những tư tưởng từ trường tư tưởng xung quanh để hoạt động trong thế giới này. Chỉ vậy thôi.
Sự khăng khăng của con người đòi hỏi tư tưởng phải liên tục chính là sự phủ nhận bản chất thực sự của nó – vốn là sự gián đoạn. Tư tưởng đã tự tạo ra cho mình một định mệnh riêng biệt. Nó rất thành công trong việc tạo ra một tồn tại song song. Bằng cách dựng lên những khái niệm như cái chưa biết, cái vĩnh hằng, cái bất tử, tư tưởng đã tìm ra cách để tự duy trì. Không hề có cái phi thời gian – chỉ có thời gian. Khi tư tưởng tạo ra thời gian, thì đồng thời nó cũng tạo ra không gian – vậy nên tư tưởng cũng là không gian. Tư tưởng còn tạo ra cả vật chất – không có tư tưởng, thì không có vật chất. Tư tưởng là một biểu hiện của sự sống, và việc biến nó thành một thực thể riêng biệt, gán cho nó đời sống riêng, rồi để nó vạch ra một tương lai nhằm tự duy trì không bị cản trở – đó là bi kịch của con người.
Hỏi: Nhưng nếu tư tưởng có thể tạo ra vật chất, ông giải thích thế nào hiện tượng như Sai Baba tạo ra đồng hồ từ không khí?
U.G.: Chuyện đó là không thể. Sai Baba là một nhà ảo thuật. Hồi trước anh ta tạo ra đồng hồ Thụy Sĩ. Nhưng sau khi chính phủ Ấn Độ đánh thuế nhập khẩu đồng hồ Thụy Sĩ, thì anh ta bắt đầu tạo ra đồng hồ sản xuất tại Ấn Độ. Tôi đã thấy một người trên truyền hình làm biến mất cả một chiếc máy bay ngay trước mắt khán giả! Sai Baba chỉ “biểu diễn” ra một chiếc đồng hồ, tặng nó cho một tín đồ danh dự, còn bản thân anh ta nhận mọi lời ca ngợi và vỗ tay. Nhìn thì có vẻ chân thật, nhưng thực ra chỉ là trò lừa bịp. Tôi cười cợt trước những thứ đó. Làm sao có thể nghiêm túc với chúng được?
Hỏi: Thế thì, điều gì khiến ông coi là nghiêm túc? Cuộc sống? Cái chết? Sự sống ngoài Trái đất?
U.G.: Tôi không nghĩ loại sự sống như chúng ta đang có lại tồn tại ở bất kỳ hành tinh nào khác. Tôi không nói rằng không có sự sống ở nơi khác – chỉ là nó sẽ không giống sự tồn tại của chúng ta ở đây. Việc bạn suy tưởng về các dạng sống khác, về những thế giới khác, chỉ là một hình thức mong muốn mở rộng vô tận vào tương lai và những miền xa xăm. Tư tưởng đang cố tự kéo dài chính nó, và việc suy đoán về tương lai hay những thế giới chưa khám phá là cách thuận tiện để làm điều đó! Cái cách bạn suy nghĩ quyết định điều bạn có thể nhận thức – hết chuyện.
Hỏi: Điều này nghe giống những gì J. Krishnamurti nói. Ông ta cho rằng tri thức tích lũy của con người trở thành truyền thống, rồi từ đó giả vờ là có tính liên tục và hợp lý riêng. Ông không tin điều đó sao?
U.G.: Không. Tôi không thấy điều tôi nói giống chút nào với suy nghĩ của ông ấy. Ông ta nói về “tỉnh thức thụ động”, về hành trình khám phá, về biến đổi tâm lý, rồi lập trường học, lập quỹ… Những việc đó không giải thoát được gì cả, mà chỉ kéo dài sự vận hành của tư tưởng và truyền thống.
Hỏi: Vậy có tồn tại tự do tư tưởng không? Có tự do cho con người không?
U.G.: Không, không có tự do hành động cho con người. Tôi không nói về một triết lý quyết định luận mang tính tận thế hay cam chịu đâu. Nhưng…
Hỏi: Không có lối thoát nào sao? Ngay cả khi ngồi thiền nhìn rốn? Hay nâng cao kundalini? Hay chiến thắng ảo giác?
U.G.: Không. Bạn có thể thử bất kỳ thứ gì, nhưng chẳng ích gì cả. Bạn chỉ thành công trong việc tạo ra rối loạn trong cơ thể, làm xáo trộn sự hài hòa vốn đã sẵn có. Những ảo giác lạ và biến đổi sinh hóa phi tự nhiên chỉ gây hại cho cơ thể. Chỉ có thế thôi. Không có gì bạn có thể làm để đảo ngược điều này, hay thay đổi hướng đi.
Hỏi: Ngay cả một sự đoạn tuyệt tạm thời nhưng triệt để với truyền thống? Nếu người ta có thể tách rời hành động khỏi tư tưởng, thì có thể hành động mà không cảm thấy tội lỗi, không lo nghĩ về hậu quả. Như vậy hành động có thể được giải phóng để làm điều gì đó mới mẻ, sáng tạo thì sao?
U.G.: Làm thế để làm gì? Để khám phá những sức mạnh tiềm ẩn sâu bên trong sao? Thực tại do tư tưởng tạo ra là điều không thể phủ nhận – nó đang hiện hữu ở đó.
Hỏi: Một số đạo sư và hiền triết khẳng định rằng trong ta có những trung tâm năng lượng vi tế, có thể được khai mở nhờ thực hành tâm linh, trong đó có việc tập trung tư tưởng vào trạng thái “không gì cả”.
U.G.: Để tập trung hay chú tâm vào một điều gì, bạn phải loại bỏ mọi thứ khác. Khi bạn tập trung vào cái gọi là “hư vô”, tức là bạn đang tách mình ra khỏi dòng chảy tự nhiên của sự sống đang diễn ra trong và xung quanh bạn. Bạn là một phần của trường từ tính tổng thể, và thứ duy nhất tách biệt bạn với người khác chính là tư tưởng. Điều bạn quan tâm chỉ là hạnh phúc và bất hạnh của bản thân – cái màn hình tivi mà bạn đang chăm chú theo dõi.
Hỏi: Điều đó chẳng phải là không thể tránh khỏi sao, vì mỗi người chúng ta sống trong thế giới chủ quan của riêng mình, không ai thấy được thế giới “khách quan” như nó thật sự? Khi mỗi người nhìn vào, ví dụ, cái bàn kia, thì mỗi người lại thấy một thứ khác nhau. Mọi sự vật cũng đều như vậy cả.
U.G.: Cái bàn không phải là một sự vật.
Việc bạn nhận ra cái bàn là “cái bàn” – đó mới là vấn đề. Nó không giống như các triết gia nghĩ – rằng tôi và bạn có những góc nhìn khác nhau về cái ghế và do đó hiểu nó khác nhau. Cũng không quan trọng cái ghế có còn ở đó khi tôi rời khỏi phòng hay không. Các triết gia cứ vòng vo mãi về chuyện đó – điều đó thật vô nghĩa. Bạn nhìn và trải nghiệm mọi thứ từ một góc nhìn khác với người khác – chỉ vậy thôi. Bạn nghĩ rằng mình đang có một trải nghiệm chủ quan về một sự vật khách quan. Nhưng ở đó không có gì cả, chỉ có dữ liệu trải nghiệm mang tính tương đối – “sự thật” của bạn. Không hề có sự thật khách quan. Không có gì tồn tại độc lập hay bên ngoài tâm trí của ta cả.
Hỏi: Ngay cả người khác thì sao? Sự tồn tại của họ cũng chỉ là hiện tượng trong tâm trí tôi thôi sao? Vợ hay hàng xóm của tôi cũng chỉ là hiện tượng tâm lý bên trong?
U.G.: Vì tôi giả định rằng “tôi” tồn tại, nên tôi cũng giả định người kia tồn tại. Nhưng tôi đang đặt nghi vấn về chính điều đó. Tôi có cách nào để tự mình trải nghiệm được thực tế là tôi đang tồn tại không? Tôi thực sự không có cách nào để biết chắc mình đang sống hay đã chết.
Tôi có thể đến gặp bác sĩ – anh ta sẽ khám, đo thân nhiệt, huyết áp – rồi nói rằng mọi thứ đều bình thường. Theo cách đó thì tôi là một sinh vật sống, khác với những đồ vật vô tri quanh tôi. Nhưng trên thực tế, tôi không có cách nào để tự mình cảm nhận rằng mình là một sinh vật sống cả.
Hỏi: Tất nhiên là ông có thể: nếu ông bị đứt tay, ông chảy máu và cảm thấy đau; nếu ông lấy vợ thì ông khổ (cười)…
U.G.: Đúng, nhưng có hai điều. Có cơ thể cảm nhận đau, và có kiến thức nói rằng: “Đây là máu”, “Đây là đau”, “Đây là lúc hết đau”. Có cảm giác đau, nhưng không có ai cảm thấy đau cả. Không có ai đang nói lúc này.
Tôi không đang nói một điều huyền bí đâu. Nói chuyện là một hoạt động cơ học, giống như máy ghi âm vậy. Những câu hỏi của bạn kéo ra những phản hồi tự động. Cái gì đang hiện hữu ở đây thì nó bật ra, vậy thôi. Vì bạn hỏi, nên câu trả lời đã có sẵn ở đó rồi.
Hỏi: Còn tình yêu thì sao, những cảm xúc sâu sắc bền vững và những phản ứng mãnh liệt trước vẻ đẹp của thiên nhiên thì sao?
U.G.: Ha! Tất cả chỉ là những điều lãng mạn điển hình. Toàn là thơ văn cả! Không phải là tôi có vấn đề gì với chủ nghĩa lãng mạn hay thơ ca đâu. Không hề. Chỉ là nó chẳng có ý nghĩa gì hết. Thực ra bạn chẳng có cách nào để nhìn ngắm hoàng hôn cả, bởi vì bạn không tách biệt khỏi hoàng hôn, càng không thể viết thơ về nó. Trải nghiệm mà bạn có, cái trải nghiệm phi thường khi ngắm hoàng hôn, là điều bạn muốn chia sẻ. Thông qua thơ ca, âm nhạc hay hội họa, bạn cố gắng truyền đạt lại trải nghiệm ấy cho người khác. Chỉ có thế thôi. Cảnh hoàng hôn thật sự thì vượt quá khả năng trải nghiệm của cấu trúc tri giác trong bạn. Người quan sát chính là vật được quan sát. bạn không thể tách biệt khỏi thứ mình nhìn thấy.
Khoảnh khắc bạn tách biệt khỏi hoàng hôn, thì nhà thơ trong bạn xuất hiện. Chính từ sự phân tách đó, các thi sĩ và họa sĩ cố gắng thể hiện bản thân, chia sẻ trải nghiệm với người khác. Tất cả những điều đó là văn hóa. Văn hóa tự tạo ra những phản ứng của riêng nó. Không có gì hơn thế.
Hỏi: Vậy còn một người bản địa, chưa từng bị văn minh chạm tới, không tiếp xúc với nền văn hóa phức tạp như ông và tôi, và người đó vẫn phản ứng trước vẻ đẹp của hoàng hôn. Ông giải thích chuyện đó thế nào?
U.G.: Bạn thấy đó, mọi chuyện phụ thuộc vào việc ta định nghĩa “văn hóa” như thế nào. Phần văn hóa hứa hẹn cho bạn sự bình an, hạnh phúc, thiên đường, moksha và sự vô ngã – chính phần đó là vấn đề. Việc cố gắng tách biệt những phần còn lại của văn hóa – cách bạn giải trí, cách bạn ăn uống, thói quen làm việc, và ngôn ngữ – ra khỏi “hiện thực đối kháng” mà văn hóa tạo ra, là một sai lầm. Những người được gọi là “man rợ” thực chất cũng hoạt động theo cùng một cách như chúng ta ngày nay. Về cơ bản, không có sự khác biệt. Trong cả văn hóa nguyên thủy và hiện đại, đều không có bình an.
Hỏi: Vậy thông điệp của ông là con người không thể sống hòa bình với chính mình. Đó có phải là điều ông muốn nói?
U.G.: Không. Con người vốn đã hòa bình với chính mình rồi. Chính ý tưởng rằng có một sự bình an ở đâu đó, trong tương lai nào đó, mới là nguyên nhân gây rắc rối. Tất cả những trải nghiệm tôn giáo như lòng từ bi, sự phúc lạc, và tình yêu đều là những phần của khát vọng tìm kiếm một sự bình an không tồn tại, điều này phá hủy sự bình an tự nhiên vốn có trong cơ thể.
Hỏi: Không bình an. Không tôn giáo. Không từ bi. Không hy vọng. Vậy chúng ta còn lại gì, U.G.?
U.G.: Không còn gì cả. Bạn đang đặt nghi vấn với toàn bộ trải nghiệm tâm linh. Đó là điều bạn đang cố gắng bóc tách ra.
Hỏi: Thế còn những nghi lễ tôn giáo cổ xưa, đẹp đẽ, và công phu, vốn chiếm phần lớn trong đời sống tôn giáo của chúng ta thì sao? Chúng có ý nghĩa hay liên quan gì đến cuộc sống của chúng ta không?
U.G.: Con người từ xưa tới nay luôn muốn tự giải trí bằng cái này hay cái khác. Các nghi lễ đã mang lại cho họ sự giải trí cần thiết trong suốt bao thế kỷ, và giờ thì chúng được thay thế bằng phim ảnh, video, truyền hình, xiếc, các buổi diễn thuyết của J. Krishnamurti, và hàng tá thứ khác. Nhiều lắm. Mỗi người đều cố gắng bán loại thuốc lá riêng của mình, sản phẩm tâm linh riêng của mình. Chúng ta muốn chúng. Có thị trường cho những món hàng tâm linh này. Đó là lý do vì sao có người bán chúng.
Không ai có thể bán cho tôi những thứ đó, bởi vì tôi không hứng thú. Nhưng những người khác thì có thể.
Hỏi: Vâng, nhưng điều gì khiến ông hứng thú? Điều gì khiến ông muốn tiếp tục sống?
U.G.: Bất cứ điều gì đang hiện hữu. Bất cứ điều gì đang xảy ra ngay lúc này, thì đó là tất cả đối với tôi.
Hỏi: Thôi nào. Ông là kiểu người sống trong hiện tại, phải không?
U.G.: Không. Diễn đạt như vậy thì sai lệch lắm. Tôi cũng không biết phải diễn tả thế nào nữa.
Xem này, tôi đọc tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Tại sao? Bởi vì trong đó có hành động. Tôi không quan tâm đến kết thúc chút nào, chỉ hứng thú với chuỗi hành động đang diễn ra. Giống như màn múa thoát y. Điều khiến tôi thích thú là phần cởi đồ, không phải đoạn kết. Ai mà quan tâm đến kết thúc cơ chứ? Tương tự như vậy, tất cả những ngày hôm qua của tôi, tất cả tri thức của tôi, và ngay cả cảm nhận về bản ngã của tôi cũng đều là những thứ đã chết từ quá khứ. Những ký ức đó có thể chất chứa nhiều cảm xúc với bạn, nhưng với tôi thì không. Tôi chỉ quan tâm đến những gì thực sự đang xảy ra ngay bây giờ, không phải ngày mai hay hôm qua.
Hỏi: Không có những ký ức đầy cảm xúc của ngày hôm qua và lời hứa hẹn về ngày mai, thì cũng chẳng còn nhiều chỗ cho hy vọng nữa, phải không?
U.G.: Với tôi thì không có cả hiện tại nữa, chứ đừng nói đến tương lai. Những gì tồn tại chỉ là quá khứ, không gì khác. Cho nên, cụm từ “ở đây và ngay bây giờ” chẳng có nghĩa gì với tôi cả. Ngay lúc này, chỉ có quá khứ đang vận hành.
Tôi không biết mình nói vậy có rõ không. Nếu tôi nhận ra ai đó và cùng họ trò chuyện, thì đó chỉ là quá khứ đang vận hành. Tôi đang nhìn vào sự vật. Nếu tôi nhận ra và gọi tên những vật đó, thì quá khứ đang vận hành. Nó đang chiếu ra những gì nó đã biết. Tương lai, dù chưa định hình, cũng chỉ là một sự kéo dài và điều chỉnh của quá khứ. Vậy thì cái gọi là “hiện tại” mà bạn đang nói đến là gì? Không có cái gọi là khoảnh khắc này. Khoảnh khắc này không phải là một thứ có thể nắm bắt, trải nghiệm, hay diễn tả được. Khoảnh khắc bạn nghĩ rằng mình đã “nắm bắt” được “hiện tại”, thì bạn đã biến nó thành một phần của quá khứ rồi.
Tất cả điều này hàm ý rằng chúng ta không bao giờ có thể chạm vào cùng một điểm tại cùng một thời gian và địa điểm. Giống như hai máy ghi âm trong một căn phòng đang phát lại các băng cũ cho nhau nghe. Tôi không có cách nào truyền đạt điều gì đến bất kỳ ai. Không có sự giao tiếp nào cả. Và khi điều đó được hiểu thật rõ ràng, thì cũng không còn nhu cầu giao tiếp nữa.
Hỏi: Điều đó có nghĩa là nỗ lực của con người nhằm dự đoán hay ngăn ngừa tương lai đã bị kết án ngay từ đầu, đúng không? Tất cả những cuộc bàn luận về việc truyền đạt thông tin, chia sẻ tri thức, và tương tác với nhau đều là nhảm nhí sao?
U.G.: Đúng vậy. Chính vì thế, con người bị tước đi mọi sự tự do thực sự trong hành động. Bạn có thể thích loại nhạc này hay món ăn kia hơn loại khác, nhưng điều đó chỉ phản ánh bối cảnh văn hóa và quá khứ của riêng bạn thôi.
Hỏi: Nếu những gì ông nói là đúng, thì không ai có tự do hành động cả, vì mọi thứ con người làm đều có nguyên nhân, và mọi nguyên nhân đều có nguyên nhân tối hậu.
U.G.: A ha! Sao bạn lại cho rằng mọi thứ phải có một khởi đầu, một nguyên nhân tối hậu? Nhân – quả có thể chỉ là chuyện tình cờ thôi. Các sự kiện có thể đơn giản là xảy ra, không có lý do gì cả. Toàn bộ quá trình tiến hóa có thể cũng chỉ là một chuyện tình cờ, một sự kiện không có nguyên nhân. Tại sao bạn cứ phải khăng khăng rằng mọi thứ phải có một đấng sáng tạo, rằng toàn bộ sự việc này phải xuất phát từ một nguyên nhân tối hậu nào đó?
Hỏi: Những bằng chứng khoa học gần đây cho thấy mọi thứ bắt đầu từ một Vụ Nổ Lớn (Big Bang). Ngay cả vụ nổ cũng cần có điểm bùng phát. Không có chuyện mọi thứ chỉ “bùm” mà không có gì cả…
U.G.: Đó là giả định của bạn thôi. Có thể chẳng hề có cái gọi là Big Bang nào cả. Người ta dùng khái niệm đó để đối lập với học thuyết “trạng thái ổn định”. Vậy là có hai lý thuyết đang cố gắng khẳng định mình là sự thật. Mỗi bên đều cố chứng minh rằng mình hợp lý hơn bên kia.
Hỏi: Nhưng rõ ràng đây là cách các ý tưởng mới được sinh ra và kiểm nghiệm trong một cộng đồng lý tính. Tìm kiếm sự thật và tri thức là một điều lành mạnh, chứ không phải là điều lệch lạc. Tự thân nó đã là điều tốt đẹp rồi.
U.G.: Tôi không phản đối phương pháp khoa học. Điều tôi muốn chỉ ra là không hề có chuyện “truy cầu tri thức thuần túy”, hay tri thức vì tri thức. Nó không hề vô tội. Người ta tìm kiếm tri thức – dù theo cách khoa học hay không – bởi vì tri thức mang lại quyền lực. Tình yêu là một phát minh của khoảnh khắc, được tạo ra để thay thế cho quyền lực. Khi bạn thất bại trên mọi phương diện khác, qua mọi con đường khác, trong việc đạt được trạng thái quyền năng tối thượng đó, thì bạn bèn phát minh ra cái mà bạn gọi là tình yêu.
Hỏi: Vậy tình yêu cũng chỉ là một tên gọi khác cho trò chơi quyền lực? Đó là điều ông muốn bọn tôi tin sao?
U.G.: Chính xác.
Hỏi: Thế còn kiểu tình yêu như Mẹ Teresa thể hiện thì sao? Còn lòng từ bi?
U.G.: Tất cả đều xuất phát từ ý thức phân tách trong con người. Cuối cùng, chúng sẽ quay lại chống lại chính mục đích mà chúng được tạo ra để phục vụ, dù có hy sinh mạng sống vì nó đi chăng nữa. Những người quanh Mẹ Teresa đang lợi dụng danh tiếng của bà. Tất cả những gì họ quan tâm bây giờ là tiền bạc, bạn biết đấy, để “tiếp tục công việc của bà”. Tại sao tất cả những điều đó lại phải được thể chế hóa? Bạn thấy ai đó đau khổ, đang đói. Bạn phản ứng với người đó. Chỉ vậy thôi. Vậy thì, tại sao lại phải thể chế hóa điều đó? Chính bạn đã làm vấy bẩn cảm xúc đó – phản ứng tức thì ấy – cái vốn không chỉ là một ý nghĩ hay cảm xúc vụn vặt, khi bạn cố gắng biến lòng tốt và sự đồng cảm thành thể chế. Điều quan trọng là phản ứng tức thì với tình huống, không hơn không kém.
Hỏi: Thể chế hóa là nỗ lực biến một tình huống duy nhất và một phản ứng duy nhất thành một phản ứng có thể lặp lại, có thể dự đoán. Một hành động đơn lẻ của người Samaritan tốt bụng trở thành một cách nhìn và hành xử phổ quát. Việc yêu thương người lân cận trở thành sự thật khi mọi người đều làm điều đó như lẽ tự nhiên, chứ không còn là kết quả của những hành vi từ bi lẻ tẻ nữa.
U.G.: Bạn không thấy đó là lòng từ bi. Đó chỉ là điều duy nhất mà bạn có thể làm trong một tình huống cụ thể, và chấm hết. Động vật cũng giúp đỡ lẫn nhau ở mức độ đáng kinh ngạc. Con người vốn dĩ có xu hướng giúp đỡ lẫn nhau. Khi sự thể chế hóa làm cùn mòn đi sự nhạy cảm tự nhiên đó, thì bạn nói rằng đó không còn là lòng từ bi nữa. Mọi sự kiện trong cuộc đời bạn đều độc lập với nhau. Không có gì kết nối hay thể chế hóa chúng cả.
Hỏi: Có phải vì lý do đó mà ông kiên quyết từ chối việc truyền bá các quan điểm của mình?
U.G.: Trước hết, tôi chẳng có quan điểm nào cả. Người ta từng muốn tôi lên truyền hình ở Mỹ. Họ có một chương trình tên là “Quan điểm cá nhân.” Tôi nói với họ: “Tôi chẳng có quan điểm nào cả.” Tôi không có thông điệp gì đặc biệt gửi đến nhân loại, cũng không mang trong mình bất kỳ khát vọng truyền giáo nào.
Tôi không phải là đấng cứu thế hay gì tương tự. Người ta đến đây. Vì sao họ đến thì không phải việc của tôi. Họ đến theo ý muốn tự do của họ, có thể vì từng nghe nói về tôi, hay chỉ vì tò mò. Không quan trọng. Một người có thể đến vì vô số lý do. Họ thấy tôi có gì đó khác lạ, một con chim hiếm, và không thể xếp tôi vào bất kỳ khuôn mẫu nào mà họ biết. Họ kể với bạn bè, rồi chẳng mấy chốc, người ta kéo đến. Tôi không thể nói với họ “biến đi” được.
Tôi mời họ vào, biết rõ rằng mình chẳng thể làm được gì cho họ cả. Tôi có thể làm gì cho họ chứ? “Vào đi, ngồi xuống, cứ thoải mái nhé,” là tất cả những gì tôi có thể nói. Một vài người thu âm lại các cuộc trò chuyện của chúng ta. Đó là chuyện của họ, không phải chuyện của tôi. Trước hết, đó là tài sản của họ, không phải của tôi.
Tôi không quan tâm đến những câu hỏi mà các bạn quan tâm. Tôi chẳng có câu hỏi nào cả, ngoài những câu giúp tôi hoạt động trong đời sống hàng ngày: “Mấy giờ rồi?”, “Bến xe buýt ở đâu?” Chỉ có vậy. Đó là những câu hỏi đơn giản cần thiết để tồn tại trong một xã hội có tổ chức. Ngoài ra, tôi không bao giờ hỏi gì thêm.
Hỏi: Ông có nghĩ rằng xã hội này thực sự được tổ chức không?
U.G.: Đây là một khu rừng rậm mà chúng ta đã tạo ra. Bạn không thể sống sót trong thế giới này. Ngay cả khi bạn cố hái một quả từ cây, thì cái cây đó cũng thuộc về ai đó hoặc thuộc về xã hội. Thế nên tôi phải trở thành một phần của xã hội. Đó là lý do tại sao tôi luôn nói rằng thế giới không mắc nợ bạn điều gì cả.
Nếu tôi muốn tận hưởng những lợi ích của xã hội có tổ chức, thì tôi phải đóng góp một phần vào đó. Chính xã hội đã tạo ra tất cả chúng ta. Xã hội luôn quan tâm đến hiện trạng, đến việc duy trì sự tiếp nối của chính nó.
Hỏi: Xã hội không tạo ra tôi. Một hành động dục vọng đơn thuần đã tạo ra tôi.
U.G.: Điều đó đúng. Nhưng dục vọng sinh ra từ tư tưởng của cá nhân – người vốn là một phần không thể tách rời của xã hội. Thông tin di truyền thực sự, có lẽ nằm trong từng tế bào của cơ thể, cũng được truyền lại, và chính nó là nền tảng của ý thức. Điều xã hội quan tâm là tất cả chúng ta đều phải góp phần vào sự tiếp nối của xã hội, rằng tất cả chúng ta đều duy trì hiện trạng. Xã hội, dĩ nhiên, có thể cho phép vài điều chỉnh nhỏ, nhưng không nhiều hơn thế.
Vậy một người như tôi đóng góp gì cho xã hội? Không gì cả. Vậy làm sao tôi có thể mong đợi điều gì từ xã hội? Xã hội hoàn toàn không mắc nợ tôi điều gì. Mặt khác, những gì tôi nói ra lại là một mối đe dọa đối với xã hội hiện tại. Cách tôi suy nghĩ, vận hành, và hoạt động là một mối đe dọa với xã hội hiện nay. Nếu tôi trở thành mối đe dọa, xã hội này sẽ tiêu diệt tôi. Tôi không hề quan tâm đến việc trở thành một vị tử đạo hay gì cả. Điều đó không hề khiến tôi hứng thú. Vậy nên nếu họ bảo, “Đừng nói nữa,” thì được thôi, tôi cũng chẳng cần phải nói.
Hỏi: Vậy là ông không có niềm tin vào con người, như J. Krishnamurti có?
U.G.: Không, không. Hoàn toàn không, hoàn toàn không.
Nếu họ kỳ vọng tôi trở thành một vị tử đạo để làm sống lại niềm tin của họ vào chính bản thân họ, thì họ sẽ thất vọng nặng nề. Đó là vấn đề của họ, không phải của tôi. Nếu họ xem tôi là mối nguy cho xã hội, họ có thể làm gì? Có thể họ sẽ tra tấn tôi, như ở các nước cộng sản. Thì sao? Liệu tôi có tiếp tục nói chống lại nhà nước khi đó không? Tôi thật sự không biết mình sẽ làm gì. Tôi không dính dáng gì đến những tình huống giả định.
Hỏi: Ông có quan điểm chính trị nào không? Ông có quan điểm chính trị nào về xã hội hiện tại này không? Ông có tin vào một hình thức chính quyền cụ thể nào không, có đứng về phía nào trong các vấn đề chính trị không?
U.G.: Tôi có quan điểm về mọi thứ, từ bệnh tật đến thần thánh, bởi vì tôi đã tiếp thu tất cả kiến thức đó thông qua việc học hành, du lịch, kinh nghiệm, và những thứ tương tự. Nhưng quan điểm của tôi chẳng quan trọng gì hơn so với cô giúp việc đang lau dọn và nấu ăn ngoài kia cả. TẠI SAO người ta lại phải coi trọng quan điểm và ý kiến của tôi?
Người ta có thể nói rằng tôi là một người có học, và rằng, nhờ vào việc đọc sách, đi đây đi đó, và nói chuyện với các trí thức, nhà khoa học, và triết gia, tôi có quyền bày tỏ quan điểm về mọi thứ. Nhưng không có gì trong những điều tôi nói hay tin là quan trọng cả.
Bạn hiểu chứ? Tất cả những gì tôi đang cố gắng chỉ ra là: toàn bộ đống kiến thức mà các bạn tự hào khoe khoang chẳng đáng một xu.
Hỏi: Tại sao kiến thức lại trở nên quan trọng đến thế với chúng ta?
U.G.: Bởi vì nó cho bạn quyền lực. Như tôi đã nói ngay từ đầu, kiến thức là quyền lực. Tôi biết, bạn thì không. Tôi có trải nghiệm tôn giáo, còn bạn thì không. Vậy nên tất cả chỉ là trò giành phần hơn – phô trương.
Hỏi: Quá khứ của ông với Hội Thông Thiên Học (Theosophical Society) có góp phần gì vào sự hiểu biết toàn diện của ông về cuộc sống không? Ông biết đấy, tất cả những chuyện thể vía, mấy trò lừa bịp của Blavatsky, chuyện tình dục lệch lạc của Leadbeater, đủ thứ tạp nham trong rạp xiếc thần trí học…
U.G.: Bất cứ điều gì đã xảy ra với tôi thì xảy ra không phải nhờ những điều đó, mà là bất chấp chúng. Và đó mới là điều kỳ diệu. Tôi thật sự không biết. Tôi không phải là người khiêm nhường hay gì đại loại như thế. Nhìn lại tình hình khi đó, tôi thật sự không có cách nào để nói cho tôi biết đó là chuyện gì. Tất cả những gì tôi biết là mình đã thoát khỏi quá khứ – và tạ ơn trời vì điều đó.
Hỏi: Nói đi, ông nghĩ gì về “hiền nhân độc hành”, J. Krishnamurti – người mà ông từng “cắt đứt” quan hệ?
U.G.: Tôi nghĩ ông ta là một trò lừa bịp vĩ đại. Đó là điều khiến tôi phản đối J. Krishnamurti. Ông ta chưa bao giờ thẳng thắn và rõ ràng cả. Nếu tôi hỏi tại sao không (rõ ràng), thì lý lẽ của ông ta sẽ là: bất cứ điều gì ông ta nói ra đều có thể bị biến thành thẩm quyền ủng hộ hay chống lại ông ta. Nhưng đó là một lập trường chính trị mà ông ta đã lựa chọn. Thực tế là ông ta đã trở thành một hình tượng có thẩm quyền với hàng trăm, hàng nghìn người rồi.
Hỏi: Và đó là điều mà ông không muốn trở thành…?
U.G.: Không. Tôi không muốn như vậy. Không bao giờ. Với tôi, tất cả điều đó thật hôi hám.
Hỏi: Nhưng cơ hội để ảnh hưởng đến con người, để thay đổi lịch sử…
U.G.: Không, không bao giờ. Đó là điều tôi đang nói…
Hỏi: Có phải là ông từ chối sử dụng quyền lực bây giờ khi ông đã có nó, hay là ông từ chối toàn bộ ý tưởng, nguyên tắc về quyền lực đối với người khác…?
U.G.: Đó là sự hiểu biết – là kiến thức đã lóe lên nơi tôi. Tôi không thể truyền đạt nó, càng không thể khuyên người khác làm theo.
Hỏi: Tất nhiên rồi. Nhưng nếu ai đó muốn thoát ra khỏi toàn bộ lĩnh vực tha hóa của trò chơi quyền lực, thì người đó chẳng phải cần thật sự khiêm tốn sao…?
U.G.: Không. Khiêm tốn là một nghệ thuật người ta luyện tập. Không có cái gọi là khiêm tốn thật sự. Miễn là bạn còn biết điều gì đó, thì nơi đó không có khiêm tốn. Cái được biết và sự khiêm tốn không thể cùng tồn tại.
Khi nói điều này, tôi không đang đưa ra định nghĩa mới về khiêm tốn. Tôi tin rằng chẳng hề có cái gọi là khiêm tốn. Tôi chỉ đơn giản là không xung đột với xã hội. Vậy nên, việc tạo ra điều ngược lại với sự tàn bạo trên thế giới – tức là “khiêm tốn” – chưa từng xảy ra trong tôi. Xã hội không thể khác với những gì nó đang là. Vì thế, vì không có đòi hỏi nào phải thay đổi trong tôi, cũng không có đòi hỏi tương ứng nào phải thay đổi xã hội. Tôi không phải là một nhà cải cách. Tôi cũng không phải là một nhà cách mạng. Thật ra, không hề có cái gọi là cách mạng. Tất cả những điều đó đều là bịp bợm. Đó chỉ là một món hàng khác được đem bán ngoài chợ, để lừa gạt những người cả tin.
Hỏi: Nói cách khác, không có sự khác biệt nào giữa thế giới của Gandhi và thế giới của Hồ Chí Minh, hay giữa những giá trị mà Chúa Giê-su truyền bá và những gì Lenin đã chiến đấu vì?
U.G.: Đúng vậy. Hoàn toàn không có sự khác biệt nào cả.
Hỏi: Nói tôi nghe điều này. J. Krishnamurti đã nói với tôi trong một cuộc trò chuyện rằng toàn bộ thế giới quan của ông ấy tồn tại được là vì ông ấy nhìn cuộc sống từ một góc độ tách biệt. Ông ấy không phải là người đầu tiên nói điều này. Nhiều người vĩ đại trong tôn giáo và nghệ thuật cũng từng nói điều tương tự. Ông có đồng ý rằng người đứng tách biệt thì thấy rõ nhất không?
U.G.: Krishnamurti nói điều đó, hay là những người theo ông ấy nói?
Hỏi: Ông ấy nói rằng ông không có người theo.
U.G.: Trước hết, tôi không có thế giới quan, không có cấu trúc tư tưởng nào có thể giúp ích cho bạn.
Hỏi: Nhưng có lẽ ông đã tạo ra một cấu trúc tư tưởng giúp ích cho chính mình?
U.G.: Không có gì giúp được tôi cả. Sự chắc chắn mà tôi có là thứ không thể truyền đạt cho bất kỳ ai khác. Và dù vậy, sự chắc chắn này hoàn toàn không có giá trị gì cả.
Hỏi: Làm sao ông đạt được sự chắc chắn đó?
U.G.: Tôi tình cờ vấp phải nó thôi. Bạn thấy đấy, tôi lớn lên ở Madras, trong cùng một môi trường đã sản sinh ra J. Krishnamurti. Tôi được bao quanh bởi những người tôn giáo, đủ kiểu người kỳ quặc. Tôi sớm nhận ra rằng tất cả họ đều là giả dối, cuộc sống của họ và những điều họ giảng dạy cách nhau cả dặm. Nên theo quan điểm của tôi, môi trường đó chẳng có giá trị gì cả. Tôi biết rất rõ về những vị cứu thế, các thánh nhân và hiền triết ấy. Tất cả họ đều tự lừa dối mình và lừa gạt mọi người. Nhưng bạn có thể chắc chắn rằng tôi sẽ không bị ai lừa cả. Tôi đang ở vị thế có thể nói rằng TẤT CẢ họ đều sai.
Cái gọi là “thay đổi”, nếu đó là từ bạn muốn dùng, đã xảy ra với tôi là một hiện tượng hoàn toàn mang tính sinh lý, không hề có chút sắc thái thần bí hay tâm linh nào cả. Bất kỳ ai gán cho một hiện tượng thể chất như vậy ý nghĩa tôn giáo thì người đó đang tự lừa mình và đang lừa cả nhân loại. Càng thông minh và xảo quyệt, bạn càng dễ thành công trong việc thuyết phục người khác. Thế là bạn thu nhận quyền lực từ mọi người, rồi phản chiếu nó lên người khác. Bạn nhận được sức mạnh to lớn từ những người theo mình, rồi lại chiếu nó trở lại lên họ. Và điều đó khiến bạn ảo tưởng rằng mình đang ảnh hưởng đến tất cả những người xung quanh. Rồi bạn lại tuyên bố ra một điều ngớ ngẩn nào đó rằng điều này đã ảnh hưởng đến toàn bộ ý thức nhân loại. Trên thực tế, nó không có bất kỳ nội dung tâm lý hay xã hội nào cả.
Không phải là tôi phản xã hội. Như tôi đã nói, tôi không có mâu thuẫn gì với xã hội cả. Tôi sẽ không đi phá đền chùa hay nhà thờ nào, cũng không đốt cuốn sách nào. Không có chuyện đó. Con người không thể là gì khác ngoài chính họ. Dù họ là gì, họ sẽ tạo ra một xã hội phản chiếu chính bản thân họ.
Hỏi: Vâng, nhưng làm sao ông lại tình cờ đạt được sự thông tuệ như vậy?
U.G.: A ha! Đó mới là câu hỏi!
Hỏi: Rõ ràng là ông không đạt được nó bằng cách ngồi dưới một cái cây dưới ánh trăng…
U.G.: Không, chẳng có gì để mà đạt được cả…
Hỏi: Tôi không nói đến một thành tựu lãng mạn nào đó, mà là về sự chắc chắn mà ông đang có. Ông có một sự chắc chắn – chỉ vậy thôi. Tôi cảm thấy tôi và những người khác không có điều đó. Và tôi cũng không biết làm sao để có được nó.
U.G.: Bạn phải tìm ra câu hỏi nền tảng của mình. Câu hỏi nền tảng của tôi là: “Có gì đằng sau những điều trừu tượng mà các vị thánh đang ném vào tôi không? Liệu có thực sự tồn tại cái gọi là giác ngộ hay tự chứng không?” Tôi không muốn có câu hỏi đó – nó đơn giản là xuất hiện. Vậy nên, tự nhiên tôi phải thử nghiệm. Tôi đã thử rất nhiều thứ, cái này, cái kia, đủ cả một thời gian. Rồi một ngày, bạn phát hiện ra rằng chẳng có gì để tìm ra cả! Bạn bác bỏ tất cả hoàn toàn và triệt để. Việc bác bỏ này không phải là một hành vi của suy nghĩ, không phải một sự phủ định hời hợt. Nó không được thực hiện để đạt được hay chinh phục điều gì.
Hỏi: … giống như nhu cầu đạt được điều gì đó mang tính tinh thần…?
U.G.: Không có gì để đạt được cả. Không có gì để tìm hay để phát hiện. Sự hiểu biết rằng không có gì để hiểu chính là tất cả. Ngay cả điều đó cũng chỉ là một tuyên bố suy diễn. Nói cách khác, không có gì để hiểu.
Hỏi: Việc không có gì để hiểu là một sự chắc chắn đối với ông, nhưng không phải với tôi.
U.G.: Trước hết, bạn thấy đấy, bạn không có cơn đói khát, không có sự khát khao tìm ra câu trả lời cho điều đó. Nên bạn chẳng thể làm gì cả. Bất kỳ điều gì bạn làm chỉ càng kéo dài cơn đói ấy, khiến nó tạm nguôi đi. Điều dường như đã xảy ra với tôi không phải là cơn đói của tôi được thỏa mãn – dù là bằng vụn bánh mì hay cả một ổ bánh – mà là cơn đói đó đã không tìm thấy câu trả lời thỏa đáng và tự nó cháy rụi. Tất cả những “thức uống giải khát” ấy chẳng hề làm dịu cơn khát của tôi. Nhưng bằng cách nào đó, trong trường hợp của tôi, cơn khát ấy tự cháy rụi. Tôi là một kẻ đã cháy rụi – nhưng không phải theo nghĩa mà bạn đang dùng từ đó. Đó là một kiểu “cháy rụi” hoàn toàn khác.
Điều còn lại bây giờ là một thứ gì đó đang sống. Không còn nhu cầu giao tiếp. Không có cách nào để giao tiếp ở cấp độ đó. Nhu cầu biết, nhu cầu chắc chắn – hoàn toàn không còn tồn tại.
Hỏi: Tôi không hiểu…
U.G.: Nó cũng giống như cái cây ngoài kia. bạn muốn làm gì với những cái cây? Chúng thậm chí còn không ý thức được rằng chúng hữu ích cho các dạng sống khác, như che bóng mát… Giống như cái cây đó, tôi chẳng bao giờ ý thức rằng mình có thể giúp ích cho ai cả.
Hỏi: Ông không có bất kỳ cảm xúc đơn giản và cao thượng nào như sự trìu mến với người khác, tình yêu, hay thậm chí là ham muốn sao? Chẳng lẽ ông chưa bao giờ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp và muốn làm tình với cô ấy?
U.G.: Chuyển động của ham muốn diễn ra quá nhanh đến mức nó không dừng lại ở đó. Có điều gì đó – tôi không nói rằng nó thú vị hay hấp dẫn hơn – nhưng nó làm thay đổi chuyển động ấy và đòi hỏi sự chú ý trọn vẹn của bạn. Mọi thứ đang diễn ra vào thời điểm đó đều đòi hỏi sự chú tâm hoàn toàn và toàn bộ của bạn. Trong trạng thái đó, không còn hai thứ – người yêu và người được yêu, kẻ theo đuổi và kẻ bị theo đuổi. Cái mà bạn gọi là “người phụ nữ xinh đẹp” – vốn chỉ là một ý niệm – sẽ nhường chỗ cho điều gì khác. Và sẽ có lúc bạn không thể yêu cô ấy theo cách cũ nữa.
Hỏi: Ý ông là khi ông thấy một người phụ nữ đẹp thì ông hoàn toàn bị cuốn vào nhưng lại không hề bị vướng bận?
U.G.: Suy nghĩ rằng cô ấy là một người phụ nữ không hề xuất hiện. Sau đó bạn mới thấy được một người phụ nữ đẹp có thể mang lại gì cho bạn. Nhưng suy nghĩ “Tôi có thể được gì từ người phụ nữ này” thì không có. Mọi thứ không ngừng chuyển động. Không có chút nội dung tôn giáo nào trong chuyện này cả.
Hỏi: Quên tôn giáo đi. Chúng ta đang nói về phụ nữ đẹp mà. Ông nói họ ảnh hưởng đến ông theo cách khác. Ông không biểu hiện sự ám ảnh tình dục như nhiều người trong chúng tôi khi ở gần phụ nữ đẹp. Nhưng ông vẫn bị ảnh hưởng. Tôi thì bị ám ảnh bởi phụ nữ đẹp và tình dục, và muốn giảm bớt tác động mà họ gây ra cho tôi. Làm sao tôi có thể đạt được sự khách quan trong vấn đề này như ông dường như đang có?
U.G.: Quá phiền phức để mà bận tâm về chuyện đó. Xin bạn hãy nhớ rằng…
Hỏi: Ông không nghĩ rằng một người đã thấy được ánh sáng thì nên soi đường cho người khác sao? Ông không cảm thấy có chút trách nhiệm nào với đồng loại của mình à? Chẳng phải ông nên chia sẻ với thế giới sự thật mà ông đã “tình cờ vấp phải” sao?
U.G.: Không. Tôi không có cách nào để truyền đạt nó và bạn cũng không có cách nào để hiểu được nó.
Hỏi: Nhưng chẳng lẽ ông không muốn truyền cảm hứng cho thế giới xung quanh mình sao?
U.G.: Truyền cảm hứng là một điều vô nghĩa. Có quá nhiều thứ và con người truyền cảm hứng cho chúng ta, nhưng những hành động sinh ra từ cảm hứng đó thì vô nghĩa. Những con người lạc lối, tuyệt vọng đã tạo ra một thị trường cho cảm hứng. Nên tôi không hứng thú với việc truyền cảm hứng cho ai cả. Mọi hành động có cảm hứng cuối cùng sẽ hủy hoại bạn và đồng loại của bạn. Đó là sự thật!
Hỏi: Có cách nào để ngăn điều đó không? Chẳng phải cuộc sống chính là phương thuốc duy nhất cho tất cả sao?
U.G.: Bạn muốn ngăn cái gì? Trong bạn, tình yêu và thù ghét được sinh ra. Tôi không thích nói như vậy, vì yêu và ghét không phải là hai thái cực đối lập – chúng là một và giống nhau. Chúng còn gần gũi hơn cả anh em họ hôn nhau.
Nếu bạn không nhận được điều mình kỳ vọng từ cái gọi là tình yêu, thì thứ còn lại chính là sự thù ghét. Bạn có thể không thích tôi dùng từ “ghét”, nhưng nó là sự dửng dưng và vô cảm với người khác. Tôi tin rằng yêu và ghét là cùng một thứ. Tôi nói điều này với mọi người, khắp nơi tôi đi qua trên thế giới.
Hỏi: Mỗi năm ông dành bốn tháng ở Mỹ, bốn tháng ở Ấn Độ, và bốn tháng ở Thụy Sĩ. Điều đó giống đáng ngờ với lịch trình du hành thông thường của J. Krishnamurti, đúng không? Ông ấy cũng đi gần như đúng tuyến đường đó năm này qua năm khác.
U.G.: Tôi không biết vì sao ông ấy làm vậy. Còn với tôi, thời tiết là lý do cho việc di chuyển. Khi Ấn Độ quá nóng, tôi đến Thụy Sĩ. Khi Thụy Sĩ quá lạnh, tôi chuyển sang California, rồi lại trở về Ấn Độ. Cả cái chuyện Krishnamurti ấy bây giờ không còn khiến tôi hứng thú nữa.
Hỏi: Có thể. Nhưng chắc chắn ông đã quan sát toàn bộ câu chuyện đó rất kỹ lưỡng vì ông từng là một phần của nó trong một thời gian dài. Ai cũng biết đến sự quan tâm của ông với J. Krishnamurti trong quá khứ, và việc ông cuối cùng đã cắt đứt với ông ấy.
U.G.: Những ngày đầu, ông ấy không có một tổ chức lớn như bây giờ. Đó chỉ là một tổ chức nhỏ, đơn giản, xuất bản vài cuốn sách, thế thôi. Ông ấy đi lại và nói chuyện công khai một chút, do vài người bạn tổ chức không chính thức. Chỉ có vậy. Nhưng giờ thì nó đã trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn, một ngành công nghiệp phát triển giống như bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Kiểu tổ chức mà ông ấy có bây giờ, với bất động sản khắp thế giới, các hội đồng quản trị, kho băng ghi âm được bảo hiểm, hàng triệu đô la – tất cả đều đi ngược lại với lời dạy cơ bản của ông ấy, rằng chân lý không thể được tổ chức. Ông ấy không nên xây dựng một đế chế nhân danh tâm linh như vậy.
Hỏi: Ông đã từng gặp bất kỳ “Thánh nhân” nào ở Ấn Độ chưa? Ông biết đấy, những người nổi tiếng kiếm tiền nhanh từ cái gọi là ngành kinh doanh tâm linh ấy?
U.G.: Chưa. Tôi chưa bao giờ là kẻ thích đi mua sắm. Tôi chỉ tình cờ gặp vài người trong số họ vài phút trong những chuyến đi của mình, thế thôi.
Những gì tôi là ngày nay được sinh ra từ chính cuộc đấu tranh của bản thân tôi. Tôi đã tự học tất cả về chính mình. Cả các trường phái tư tưởng thế tục lẫn tâm linh đều làm tôi khó chịu. Vì vậy, các vị guru và thánh nhân chẳng có chút hứng thú nào với tôi cả. Chúng ta đã xuất khẩu họ sang Mỹ và châu Âu. Mà phương Tây cũng có những người như vậy…
Hỏi: Vâng. Reverend Moon, Jim Jones, toàn là bọn lừa đảo…
U.G.: Và giờ lại có thêm một Jones khác: Da Jones – trong tiếng Phạn nghĩa là “người ban tặng”. Bất kỳ trò lừa thánh thiện nào cũng được hoan nghênh ở đó, dù từ Indonesia, Nhật Bản, Ấn Độ hay Nepal. Nếu họ đủ nổi tiếng ở phương Tây, tạo ra đủ tiếng vang, chúng ta lại mang họ về Ấn Độ. Giống như cách phụ nữ Ấn mang sari từ phương Tây về mặc ở đây. Họ phải trả gấp ba lần giá!
Hỏi: Ông đã từng gặp Maharishi Yogi ở Thụy Sĩ chưa?
U.G.: Không, chưa bao giờ. Tôi không ra khỏi phòng mình, nên tôi không thể nói được. Tôi không biết chuyện gì đang diễn ra ở Ấn Độ. Tôi cũng không quan tâm đến báo chí ở đây nên chẳng đọc chúng. Các sự kiện thời sự ở Ấn Độ không khiến tôi hứng thú, bạn thấy đấy, vì bất kể chuyện gì xảy ra ở đây thì cũng không ảnh hưởng gì thực sự đến thế giới. Ấn Độ không ở vị trí có thể tác động đến thế giới. Mặc dù không có cách rõ ràng để phân biệt giữa ý kiến tâm linh, chính trị hay kiểu khác. Bạn có thể gọi đây là một quan điểm chính trị.
Làm sao Ấn Độ có thể dẫn dắt hay ảnh hưởng thế giới? Ấn Độ không có quyền lực cũng như địa vị đạo đức. Cái gọi là tâm linh mà các bạn tuyên bố thực chất không hoạt động trong đời sống của quốc gia này. Các bạn phải cho thế giới thấy rằng cái sự “nhất thể của sự sống” mà các bạn đã giảng dạy suốt bao thế kỷ thực sự được thể hiện trong cuộc sống hằng ngày của đất nước này cũng như trong đời sống cá nhân. Điều đó là rất khó.
Không ai quan tâm đến những gì Ấn Độ nói hay làm. Ấn Độ không có tầm vóc cần thiết để ảnh hưởng đến các sự kiện toàn cầu. Điều duy nhất về Ấn Độ mà thế giới quan tâm là câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra với hàng triệu triệu người ở đây? Họ sẽ đi về hướng nào, về phe nào?” Chỉ có vậy thôi.
Hỏi: Một tôn giáo như chủ nghĩa Marx có giúp được gì không? Nó có một nội dung tâm linh, theo cách riêng của nó. Có vẻ như nó nhìn từ một khuôn khổ rộng hơn, bớt lỗi thời hơn.
U.G.: Chủ nghĩa Marx như một tôn giáo đã thất bại. Ngay cả chủ nghĩa Mao cũng đã chết. Ngay cả các quốc gia Marxist cũng đang tìm kiếm một vị thần mới. Họ đã mất niềm tin vào con người và lại đang tìm một vị thần mới, một nhà thờ mới, một cuốn kinh thánh mới và một giáo sĩ mới. Cuộc tìm kiếm đang diễn ra cho một kiểu tự do khác.
Hỏi: Nhưng Ấn Độ giáo cho phép rất nhiều tự do. Nó chưa bao giờ là một tôn giáo bảo thủ như Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay chủ nghĩa Marx.
U.G.: Sự khác biệt duy nhất giữa phương Đông và phương Tây là sự khác biệt trong tôn giáo của chúng ta. Thiên Chúa giáo không sinh ra những nhân vật kỳ quặc như chúng ta có ở đất nước này. Ở đây, tôn giáo là chuyện cá nhân. Mỗi người đều mở cửa hàng riêng và bán món hàng riêng của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta có đủ thứ ở đây, điều mà phương Tây không có. Chính sự đa dạng này là phần hấp dẫn nhất của cái gọi là di sản của chúng ta.
Ấn Độ giáo không phải là một tôn giáo. Nó là một sự pha trộn và rối rắm của nhiều thứ. Từ “Hindu” thực chất xuất phát từ một từ phi-Sanskrit đã thất truyền. Bạn sẽ chẳng biết gì về nó đâu. Người Aryan xâm lược đã thiết lập cấu trúc xã hội Bà-la-môn và thấy người bản địa có nước da đậm màu, nên họ gọi tôn giáo của người bản địa là tôn giáo của người da đen – tức “Hindus”. Các học giả và giới uyên bác có thể không thích cách giải thích của tôi, nhưng nó đúng và có cơ sở lịch sử.
Tôi xin nhắc lại, Ấn Độ giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa thông thường; nó giống như một con phố với hàng trăm cửa hàng.
Hỏi: Ý ông là tiệm tình dục của Rajneesh nằm cạnh tiệm tỉnh thức của J. Krishnamurti, sát bên tiệm thiền của Maharshi, tiếp theo là tiệm phép màu của Sai Baba, rồi tiếp đến là…
U.G.: Về cơ bản thì tất cả đều giống nhau, hoàn toàn giống nhau. Ai cũng tuyên bố rằng món hàng của mình là tốt nhất trên thị trường. Một vài sản phẩm, như xà phòng Pears, đã có mặt trên thị trường quá lâu đến nỗi người ta quen với nó, dựa vào nó và cho rằng nó vượt trội hơn sản phẩm khác. Nhưng tuổi thọ của một sản phẩm thì không có ý nghĩa gì nhiều.
Hỏi: Ông nghĩ gì về ngành giải trí Ấn Độ? Người ta nói phần lớn người theo dõi ông đến từ ngành này.
U.G.: Mọi thứ ở đất nước này đều là giải trí. Các chính trị gia sống nhờ sự cả tin của con người. Tôn giáo sống nhờ vào sự nhẹ dạ của người khác. Chúng ta chỉ là những kẻ ngu ngốc, bạn thấy đó. Chỉ có vậy thôi.
Hỏi: Với quan điểm như vậy về nhân loại, chắc ông không có hy vọng gì lớn cho tương lai của giống loài này…
U.G.: Tôi không nghĩ sẽ có điều gì tốt đẹp hơn xảy ra với con người, hay cho con người.
Hỏi: Nhưng chắc chắn sự tiến bộ đáng kinh ngạc của công nghệ, đặc biệt ở phương Tây, trong một trăm năm qua là dấu hiệu tốt cho loài người chứ?
U.G.: Điều đó đúng. Nhưng đó là nhờ cuộc cách mạng công nghiệp. Những quốc gia như Nga, Mỹ và các quốc gia phương Tây khác đã tận dụng cách mạng công nghiệp để thúc đẩy công nghệ.
Hỏi: Có vẻ như con người đã tiến bộ nhiều hơn trong một trăm năm qua so với bốn tỷ năm trước đó cộng lại.
U.G.: Đó chính xác là điều tôi đang nói. Chính nhờ cuộc cách mạng công nghiệp mà những thay đổi sâu rộng đang lan rộng khắp thế giới. Hiệu quả của những thay đổi đó đến mức nào thì còn là điều không ai biết. Thời đại của khoa học và công nghệ đang bắt đầu trượt dốc rồi…
Hỏi: Ông nghĩ tất cả điều này sẽ đưa chúng ta đến đâu?
U.G.: Tại sao nó lại phải đưa chúng ta đến đâu? Tại sao? Để làm gì? “Tiến bộ” nghĩa là “xâm nhập vào lãnh thổ của kẻ thù”. Bạn đang hy vọng rằng tiến bộ không giới hạn sẽ mang lại giải pháp cho các vấn đề của chúng ta. Nếu chuyện đó rõ ràng như vậy, thì ta có thể lập trình máy tính và để xem chúng nói gì về tương lai và vận mệnh của chúng ta.
Hỏi: Nhưng nếu chúng ta chỉ là tổng hòa của quá khứ, thì việc dự đoán sẽ trở nên dễ dàng và chính xác…
U.G.: Điều đó không đảm bảo gì về việc tương lai sẽ đưa ta đến đâu.
Hỏi: Không, chúng ta có thể kiểm soát tương lai của mình mà.
U.G.: Một điều gì đó bất ngờ và không thể dự đoán xảy ra là đủ để thay đổi toàn bộ hướng đi. Chúng ta mặc nhiên cho rằng mình có thể dẫn dắt cuộc sống theo hướng mình muốn, nhưng không có gì bảo đảm là ta sẽ thành công. Các sự kiện thực ra độc lập với nhau. Chúng ta tạo ra và ráp nối chúng lại. Chúng ta đã tạo ra cấu trúc triết lý của tư tưởng, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ đều có khuôn mẫu hay mục đích. Cũng không có nghĩa rằng mọi thứ đều được định sẵn.
Hỏi: Nhưng còn hy vọng thì sao? Chắc chắn con người sống nhờ hy vọng.
U.G.: Con người luôn sống bằng hy vọng và có lẽ cũng sẽ chết trong hy vọng. Xét đến sức mạnh hủy diệt khủng khiếp mà con người hiện nay đang nắm trong tay, có lẽ khi con người ra đi thì cũng sẽ kéo theo mọi dạng sống khác. Đây không phải là bài hát tận thế của tôi đâu, nhưng nếu nhìn thực tế vào hoàn cảnh hiện tại, thì có vẻ như đó là số phận chung của tất cả chúng ta, dù muốn hay không. Bạn sai lầm nếu nghĩ hay hy vọng rằng chúng ta có thể đặt cả đà lịch sử loài người lên một đường ray khác. Chúng ta cần được cứu khỏi những “đấng cứu thế” đang hứa hẹn thiên đường ngay sau khúc quanh.
Hỏi: Làm sao mà tránh được điều đó?
U.G.: Câu hỏi “làm sao” sẽ lại tạo ra thêm một đấng cứu thế nữa.
Hỏi: Vâng, nhưng còn có con đường nào khác để đổi hướng ngoài tâm linh không?
U.G.: Trước hết, phải nói rằng, việc chia cuộc sống thành vật chất và tâm linh hoàn toàn vô nghĩa với tôi. Tất cả những thứ vớ vẩn về đời sống tâm linh này bắt nguồn từ giả định rằng có một “tinh thần” tồn tại độc lập. Giả định đó chẳng có nghĩa lý gì.
Hỏi: Còn khái niệm rằng thân xác bị hủy diệt nhưng tinh thần thì vẫn tồn tại…?
U.G.: Đó chỉ là một niềm tin. Nó không có ý nghĩa gì cả. Tôi không có cách nào để truyền đạt sự chắc chắn này cho bạn. Không có gì sẽ sống lại hay tái sinh sau khi tôi chết. Việc bạn suy đoán về “bên kia” chẳng có nghĩa gì.
Hỏi: Bản thân cơ thể dường như cũng tìm kiếm sự bất tử qua việc sinh sản.
U.G.: Đó là bản chất của sự sống. Nhu cầu tồn tại và sinh sản là thứ vốn có trong tự nhiên của sự sống. Tình dục của bạn, con cái, cấu trúc gia đình và rất nhiều thứ khác là sự mở rộng của động lực căn bản đó: sống sót và sinh sôi.
Hỏi: Vậy khi ông chết là hết…?
U.G.: Nếu khi cơ thể này được chôn cất, ký ức của mọi người về tôi cũng được chôn cùng, thì đó sẽ là dấu chấm hết của tôi.
Hỏi: Một số người theo ông muốn rải tro của ông…
U.G.: Để làm gì? Rất thường xuyên người ta hỏi tôi, “Ông sẽ không để lại chỉ dẫn nào về việc xử lý thi thể ông sao?” Quỷ tha ma bắt! Ai lại muốn để lại chỉ dẫn gì chứ? Nó sẽ bắt đầu bốc mùi và trở thành mối phiền cho xã hội… Đó không phải là vấn đề của tôi, mà là của xã hội. Tôi đã ở trong địa ngục rồi. Tôi đâu cần chết để đến đó nữa.
Hỏi: Ông có gia đình ở đâu đó, đúng không?
U.G.: Hai con gái tôi ở Hyderabad. Một người con trai của tôi, Vasant, mới mất vì ung thư. Người con trai còn lại, Kumar, nhỏ hơn và sinh ở Mỹ. Cậu ấy hiện là kỹ sư điện tử bên đó. Tôi thỉnh thoảng gặp cậu ấy khi sang Mỹ. Tôi không liên lạc nhiều với gia đình. Họ có ghé thăm tôi đôi lúc. Vậy thôi. Tôi không có mối liên kết cảm xúc nào với họ, hay với bất kỳ ai. Ngay cả với Valentine, bà cụ người Thụy Sĩ mà tôi sống cùng suốt hai mươi năm qua. Tôi không nghĩ mình có liên kết tình cảm với ai cả.
Hỏi: Ông có từng có liên kết tình cảm với ai chưa?
U.G.: Tôi không biết. Có lẽ là chưa từng, ngay cả với vợ tôi – người tôi sống cùng suốt hai mươi năm. Tôi thực sự không biết một người nên có loại liên kết gì.
Hỏi: Ông chưa từng có cảm xúc mãnh liệt nào với ai à – dù là đàn ông hay phụ nữ?
U.G.: Điều ám ảnh tôi nhất là tìm ra câu trả lời cho câu hỏi của mình. Đó là điều lớn nhất với tôi. Cái gì ẩn sau những trừu tượng mà những người kia – kể cả J. Krishnamurti – đã ném vào tôi? Nếu chẳng có gì ở đó, thì làm sao họ có thể gây ra từng ấy rối ren cho thế giới này? Tôi hiểu rằng người ta có thể tự lừa mình và lừa người khác; nhưng tôi muốn một câu trả lời. Tôi chưa bao giờ nhận được câu trả lời. Câu hỏi ấy chỉ tự nó thiêu cháy chính nó.
Điều đó không có nghĩa rằng tôi đã giác ngộ, hay rằng tôi biết Sự Thật. Những người tuyên bố như vậy đều tự lừa mình và lừa người khác. Tất cả họ đều sai. Không phải là tôi vượt trội hơn họ hay gì cả; chỉ là họ đang đưa ra những khẳng định không có cơ sở thực sự. Đó là – và vẫn là – điều tôi chắc chắn. Không có quyền lực nào trên thế giới này có thể khiến tôi chấp nhận điều gì cả. Vậy nên tôi không xung đột với bất kỳ cơ cấu quyền lực nào. Tôi cũng không quan tâm đến việc lấy đi điều gì từ ai cả.
Hỏi: Ở ông toát ra một sự tách biệt, hay thờ ơ nào đó. Ông chưa từng bị cuốn đi bởi điều gì sao – ví dụ, một người phụ nữ đẹp, một hoàng hôn đẹp, hay một bản nhạc tuyệt đẹp? Chưa từng có điều gì hoàn toàn nhấn chìm ông, khiến ông muốn trốn khỏi tất cả, đi đâu đó mà chính ông cũng không biết…?
U.G.: Dù tôi có là gì đi nữa, tôi chưa bao giờ là người lãng mạn theo nghĩa đó. Tất cả những thứ đó là sự lãng mạn đối với tôi. Lãng mạn không phải là thực tại của tôi. Chưa từng có gì, và cũng sẽ không có gì, khiến tôi bị cuốn đi cả. Không phải là tôi đối lập với điều đó – một người của lý trí. Chính yếu tố lý trí trong tôi đã nổi dậy chống lại chính nó. Tôi không phản lý trí, cũng không phi lý trí – chỉ là tôi không dựa vào lý trí. Bạn có thể suy diễn một ý nghĩa hợp lý nào đó từ những gì tôi nói hay làm, nhưng đó là việc của bạn, không phải của tôi. Tôi không quan tâm đến việc ai đó đi tìm hạnh phúc, lãng mạn, hay sự thoát ly…
Hỏi: Nhưng nó có thể hơn cả sự lãng mạn đơn thuần. Nó có thể là một sự buông thả bản thân, một trải nghiệm điên loạn, cuồng nhiệt, kinh hoàng, vĩ đại, tâm linh hay tình dục.
U.G.: Ở đây không có trải nghiệm gì cả. Vậy làm sao có được những trải nghiệm kịch tính, điên cuồng đó? Tôi không có cách nào để tách mình ra khỏi sự kiện; sự kiện và tôi là một. Tôi chắc bạn không muốn tôi nói thẳng thừng về tình dục. Nó chỉ là sự giải tỏa căng thẳng. Tôi không lãng mạn hóa những chuyện kiểu đó. Như tôi từng nói với vợ tôi: “Đừng nói với tôi về tình yêu và sự gần gũi; cái giữ chúng ta bên nhau là tình dục. Vấn đề là, vì lý do nào đó, tôi không thể quan hệ với người phụ nữ khác. Đó là vấn đề của tôi. Tôi không có cách nào thoát ra khỏi nó.” Tôi không biết tất cả những điều này có ý nghĩa gì với bạn không. Tất cả những lời nói về tình yêu chẳng bao giờ có nghĩa gì với tôi cả. Đó là hồi kết của sự ám ảnh với tình dục.
Hỏi: Nhưng đã có lúc ông quan hệ với một người phụ nữ khác…
U.G.: Đúng, nhưng đó không phải là tình huống do tôi tạo ra. Tôi sẽ không nói là mình bị quyến rũ. Không quan trọng là ai quyến rũ ai. Sự thật là tôi đã làm điều đó. Không phải người kia có trách nhiệm. Chính tôi chịu trách nhiệm. Đó là một dạng tự-kích dục kỳ lạ trong trường hợp này.
Hỏi: Sao ông có thể nói như vậy?
U.G.: Tôi đã sử dụng người đó. Thật kinh khủng khi dùng ai đó chỉ để có khoái cảm. Dù bạn dùng một ý tưởng, một khái niệm, một loại thuốc, một con người, hay bất cứ thứ gì – bạn không thể có khoái cảm nếu không sử dụng một thứ gì đó. Điều này khiến tôi ghê tởm. Bạn cười gì vậy? Đây là cuộc đời tôi – muốn chấp nhận hay không thì tùy.
Tôi không quan tâm đến việc sử dụng, ảnh hưởng hay thay đổi ai cả. Đây chỉ là lời kể về tôi là ai, tôi đã sống thế nào, không hơn không kém. Nó sẽ không có giá trị gì to lớn với nhân loại và không nên được lưu giữ cho hậu thế. Tôi không tin vào “hậu thế”. Tôi không có giáo lý nào. Không có gì cần bảo tồn cả. “Giáo lý” ngụ ý một điều gì đó có thể được dùng để tạo ra thay đổi. Xin lỗi… Ở đây không có giáo lý, chỉ là những câu rời rạc, rời rạc. Cái tồn tại chỉ là diễn giải của bạn về lời nói hay chữ viết – không hơn. Những câu trả lời mà bạn nhận được là của bạn. Chúng thuộc về bạn, không thuộc về tôi. Vì lý do đó, nên bây giờ hay sau này, sẽ không có bất kỳ bản quyền nào cho những gì tôi nói. Tôi không có bất kỳ đòi hỏi hay tuyên bố nào.
Hỏi: U.G., hãy kể tôi nghe, thời thơ ấu của ông thế nào?
U.G.: Mẹ tôi mất khi tôi mới bảy ngày tuổi. Ông bà ngoại tôi nuôi dưỡng tôi. Ông tôi là một nhà Thông Thiên Học (Theosophist). Ông là một người giàu có và tạo ra một bầu không khí rất tôn giáo trong nhà. Theo nghĩa đó, J. Krishnamurti cũng là một phần trong nền tảng của tôi. Ảnh của ông ta có trên mọi bức tường – tôi không thể tránh khỏi ông ta. Tôi không đến với ông ta vì tìm kiếm điều gì cả. Ông ta chỉ là một phần trong bối cảnh tôi lớn lên. Sẽ là điều đáng chú ý hơn nếu tôi không từng đi gặp ông ta. Vấn đề của tôi là thoát khỏi toàn bộ nền tảng đó – nó đang bóp nghẹt tôi. Vậy thôi.
Hỏi: Ông lớn lên ở đâu?
U.G.: Chủ yếu ở Madras, trong Hội Thông Thiên Học. Tôi học Đại học Madras. Tôi sống phần lớn những năm hình thành trong giới Thông Thiên Học.
Hỏi: Họ khiến ông chán ghét ngay từ đầu à?
U.G.: Theo một cách nào đó thì có, ngay từ đầu. Nhưng tôi vẫn tự lo cho mình. Tôi rất muốn thoát khỏi quá khứ. Tôi đã cố gắng rất nhiều. Sau khi J. Krishnamurti rời bỏ tất cả, cuối cùng tôi cũng rời khỏi họ – những người Thông Thiên Học.
Hỏi: Ông có ký ức nào về Annie Besant không?
U.G.: Ồ có chứ! Bà ấy là một người phụ nữ xuất chúng. Tôi gặp bà khi tôi mười bốn tuổi. Tôi vẫn nhớ cách bà hùng biện. Ông tôi rất thân với Annie Besant. Bà là một nhân vật mang tính biểu tượng. Tôi nghĩ Ấn Độ có rất nhiều lý do để biết ơn bà – ở nhiều mặt. Nhưng thế hệ hiện đại không biết gì về bà cả. Cũng như họ chẳng biết gì nhiều về Gandhi. Rất khó để nói người ta còn nhớ gì về ông ấy. Bộ phim mới về ông ấy có lẽ sẽ làm người ta quan tâm hơn.
Hỏi: Ông nghĩ gì về những niềm tin của Gandhi?
U.G.: Bạn muốn biết ý kiến tôi – tôi sẵn sàng nói. Vì lý do nào đó tôi chưa bao giờ ưa ông ta. Có lẽ vì nền tảng Thông Thiên Học của tôi. Trên hết, ông ta là một sự pha trộn giữa một vị thánh và một chính trị gia. Tôi nghĩ ông ta là người duy nhất trong đám ấy thực sự cố sống theo điều ông ta tuyên bố tin vào. Có thể ông ta đã thất bại – theo tôi là vậy – nhưng việc ông ta cố sống theo lý tưởng đó khiến ông ấy là một nhân vật thú vị. Còn nhiều người khác cũng góp phần giành độc lập cho Ấn Độ, đâu chỉ mình ông ta. Những gì ông để lại cho đất nước này là con số không. Giờ chỉ là sự cảm tính – mỗi năm lại giảng về ông ấy vào ngày sinh nhật. Ông và những người theo ông không ngừng nói về bất bạo động, nhưng như phim mới cho thấy, ông đã dùng bạo lực từ đầu đến cuối.
Hỏi: Nhưng điều đó cũng có thể nói về Chúa, Đức Phật và Mohammed. Chính những người đi theo sau họ mới làm sai lệch lời dạy…
U.G.: Bạn không thể tha bổng cho những người sáng lập và lãnh đạo các tôn giáo. Lời dạy của tất cả những giáo chủ và “cứu tinh” của nhân loại chỉ dẫn đến bạo lực mà thôi. Ai cũng nói về hòa bình và tình yêu, trong khi những người theo họ lại thực hành bạo lực.
Toàn bộ chuyện này có điều gì đó rất buồn cười. Chính khoảng cách giữa lời nói và hành động khiến tôi sớm nhận ra rằng có gì đó rất sai. Tôi cảm thấy các lời dạy là sai, nhưng tôi thiếu sự chắc chắn. Tôi không thể gạt bỏ chúng khỏi ý thức. Tôi không sẵn sàng chấp nhận chúng chỉ vì tình cảm. Dù khi tôi cố thoát khỏi chúng đến mức trải qua những giai đoạn kiểu “ý thức Chúa” hay “ý thức Phật”, tôi vẫn không hài lòng. Tôi biết phải có gì đó sai. Đó là vấn đề thực sự của tôi, bạn biết không.
Hỏi: Ông từ chối cả trên cơ sở tình cảm lẫn lý trí. Vậy còn gì nữa?
U.G.: Nó giống như người đang cưỡi cọp rồi bị hất xuống. Con cọp vẫn tiếp tục chạy theo đà của nó – và biến mất. Vậy thôi. Bạn không còn làm gì được với con cọp đó nữa. Nên bạn cũng sẽ không bao giờ còn sợ việc gặp lại hay cưỡi nó. Kết thúc rồi. Nó đi rồi.
Vậy nên tôi thấy chẳng có lý do gì để mình phải làm gì trong xã hội – nó có quán tính riêng của nó. Bất cứ điều gì bạn cố làm cũng sẽ nuốt chửng bạn và tiếp tục quán tính đó. Ai đã trao cho tất cả những người này cái “mệnh lệnh” đi cứu nhân loại vậy? Lòng từ bi và tình yêu chỉ là hai chiêu trò của họ thôi.
Hỏi: Ông có từng gặp ông Thông Thiên Học kỳ lạ tên Leadbeater trong những năm theo Theosophy không?
U.G.: Có, tôi từng gặp ông ta. Ông ta cũng là một phần trong nền tảng của tôi. Ông ta chưa bao giờ gây ấn tượng mạnh với tôi. Tôi biết có những lời đồn rằng ông ấy là người đồng tính. Với tôi điều đó không quan trọng. Tình dục là một phần của đời sống. Đồng tính, song tính, dị tính – tất cả đều như nhau. Tôi không có lập trường đạo đức nào cả. Chính xã hội – xã hội đã tạo ra tất cả những kẻ rối loạn đó – đã phát minh ra “đạo đức” để tự bảo vệ khỏi họ. Tôi không liên quan. Xã hội đã tạo ra “thánh nhân” và “tội nhân”. Tôi không chấp nhận họ theo cách đó.
Có thể có sai lầm, có lỗi, có yếu đuối – nhưng không có “tội lỗi” đối với tôi. Cá nhân tôi không thấy lý do gì để bận tâm tới Kinh Thánh, Kinh Koran, Bhagavad Gita hay Dhammapada. Chúng ta đã có cơ chế chính trị với hệ thống luật dân sự và hình sự. Như vậy là đủ để giải quyết vấn đề rồi.
Ghi chú:
(1) Pháp Cú (Dhammapada): Một tác phẩm kinh điển của Phật giáo, chính thức thuộc Kinh Tạng (Sutta Pitaka) – một trong ba “tạng” chứa đựng các lời dạy của Đức Phật, được biên tập vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên.